Tổng quan nghiên cứu

Thủy điện giữ vị trí then chốt trong cấu trúc an ninh năng lượng quốc gia, đóng góp trên 40% tổng sản lượng điện toàn hệ thống và tạo ra nguồn thu ngân sách nhà nước bền vững tại hàng chục địa phương. Trong cơ cấu thu ngân sách, thuế giá trị gia tăng (GTGT) khẳng định vai trò trụ cột khi chiếm tỷ trọng bình quân 23,4% tổng thu ngân sách từ thuế giai đoạn 2006 - 2010 và đạt mức 27,6% vào năm 2010, tương đương 7,8% GDP. Tuy nhiên, hoạt động quản lý thuế GTGT đối với các doanh nghiệp sản xuất thủy điện thuộc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tồn tại nhiều tính chất đặc thù: các nhà máy thủy điện chủ yếu vận hành theo mô hình hạch toán phụ thuộc, sản phẩm điện không qua khâu bán lẻ trực tiếp tại nhà máy mà do công ty mẹ điều phối, trong khi công trình lại trải dài qua nhiều địa bàn hành chính cấp tỉnh.

Nghiên cứu tập trung giải quyết xung đột giữa mô hình quản lý tập trung của EVN và yêu cầu phân bổ nguồn thu ngân sách theo Luật Ngân sách Nhà nước. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận về thuế GTGT trong ngành năng lượng, đánh giá toàn diện thực trạng công tác hành thu giai đoạn 2009 - 2013, chỉ rõ 16 điểm nghẽn về chính sách, thủ tục kê khai và kiểm tra thuế, từ đó xác lập 6 nhóm giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế đến năm 2020. Phạm vi không gian bao quát toàn bộ các công ty thủy điện thuộc EVN và 3 Tổng công ty Phát điện (GENCO 1, 2, 3), với dữ liệu khảo sát trải dài trên hơn 20 tỉnh thành. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao hiệu lực hành thu, cắt giảm 30% chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và đảm bảo phân bổ nguồn thu công bằng cho các ngân sách địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết thuế gián thu hiện đại và lý thuyết quản trị thuế theo chức năng. Về bản chất, thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn có tính trung lập kinh tế cao, chỉ đánh trên phần giá trị gia tăng phát sinh qua từng nấc từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng mà không gây hiện tượng trùng thuế như thuế doanh thu trước năm 1999 (vốn áp dụng tới 11 mức thuế suất từ 0% đến 40%). Hệ thống thuế GTGT hiện hành vận hành với 3 mức thuế suất chuẩn gồm 0%, 5% và 10%, kết hợp ngưỡng doanh thu không chịu thuế 100 triệu đồng/năm theo Luật sửa đổi số 31/2013/QH13.

Khung lý thuyết phân định rõ 4 chức năng cốt lõi của cơ quan thuế: hoạch định chỉ tiêu, tuyên truyền hỗ trợ người nộp thuế, tổ chức hành thu (đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế) và thanh tra kiểm tra giám sát tuân thủ. Cơ chế quản trị chuyển dịch căn bản từ "chuyên quản" sang cơ chế doanh nghiệp tự tính, tự khai, tự nộp và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, gắn liền với chế tài xử phạt nghiêm ngặt: phạt tiền chậm nộp 0,05%/ngày trong 90 ngày đầu và 0,07%/ngày cho các ngày tiếp theo. Đối với ngành thủy điện, lý thuyết phân bổ nghĩa vụ thuế được vận dụng để xử lý mối quan hệ giữa công ty mẹ hạch toán tập trung và các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc theo sản lượng điện năng đo đếm thương phẩm.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng trên chuỗi dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2009 - 2013 do Tổng cục Thuế, EVN và các Cục Thuế địa phương cung cấp.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 100% các đơn vị sản xuất thủy điện trực thuộc EVN và các Tổng công ty phát điện, với 22 nhà máy thủy điện công suất lớn trên toàn quốc. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được áp dụng cho khối nhà máy hạch toán phụ thuộc, kết hợp chọn mẫu điển hình đối với các cụm công trình thủy điện liên tỉnh có hồ chứa nằm trên địa giới từ 2 đến 3 tỉnh (như Thủy điện Sơn La, Hòa Bình, Ialy, Trị An).

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh đối chiếu là nhằm bóc tách chính xác dòng tiền và nghĩa vụ thuế phát sinh qua từng cấp quản lý. Việc phân tích chuỗi thời gian 5 năm cho phép nhận diện rõ nét các biến động về số thu thuế GTGT phát sinh, tỷ lệ hồ sơ khai thuế đúng hạn, nợ đọng thuế và hiệu quả công tác hậu kiểm sau khi thực hiện Luật Quản lý thuế số 78/2006/QH11.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc áp dụng cơ chế phân bổ thuế GTGT từ năm 2009 đã tạo nguồn thu ổn định cho ngân sách các địa phương có nhà máy thủy điện, chiếm từ 15% đến 35% tổng thu ngân sách nội địa tại các tỉnh miền núi khó khăn. Tuy nhiên, 100% các nhà máy thủy điện phụ thuộc không có doanh thu thương mại độc lập, dẫn đến việc xác định giá tính thuế GTGT đầu ra phải thông qua giá bán điện nội bộ tạm tính, tạo ra mức chênh lệch từ 3% đến 8% so với giá bán điện bình quân thực tế của EVN.

Thứ hai, mức độ tuân thủ kê khai thuế của các doanh nghiệp thủy điện thuộc EVN đạt tỷ lệ 100% nộp tờ khai đúng hạn theo mẫu số 01/TD-GTGT và bảng phân bổ mẫu số 01-2/TD-GTGT. Dù vậy, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính bị đội lên đáng kể khi mỗi nhà máy thủy điện liên tỉnh phải nộp cùng lúc 2 đến 4 bộ hồ sơ phân bổ cho các Cục Thuế khác nhau trên cùng một dòng doanh thu hợp nhất.

Thứ ba, công tác thanh tra, kiểm tra thuế bộc lộ độ trễ lớn khi 85% các cuộc kiểm tra hồ sơ vẫn thực hiện theo phương thức đối chiếu thủ công tại trụ sở cơ quan thuế. Chưa thiết lập được cơ chế truyền nhận dữ liệu tự động giữa phần mềm kế toán EVN, hệ thống đo đếm của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện Quốc gia (A0) và hệ thống ứng dụng quản lý thuế tập trung (TMS), khiến thời gian thanh tra kéo dài từ 30 đến 45 ngày làm việc cho mỗi kỳ quyết toán.

Thảo luận kết quả

Thực trạng trên bắt nguồn từ mô hình tổ chức đa tầng nấc của EVN được quy định theo Nghị định số 205/2013/NĐ-CP, kết hợp áp lực chỉ tiêu thu ngân sách địa phương theo Luật Ngân sách Nhà nước. Mô hình quản lý thuế phân tán hiện nay bộc lộ sự bất cập rõ rệt khi so sánh với thông lệ quốc tế. Tại Pháp, Cục Thuế Doanh nghiệp lớn trực thuộc Tổng cục Thuế trực tiếp quản lý toàn bộ các khâu từ hỗ trợ, tiếp nhận kê khai đến thanh tra 100% doanh nghiệp có quy mô trọng điểm. Trong khi đó, tại Việt Nam, Vụ Quản lý thuế Doanh nghiệp lớn mới chỉ dừng lại ở vai trò tham mưu chính sách, trao toàn bộ quyền hành thu cho các Cục Thuế cấp tỉnh, dẫn tới sự thiếu thống nhất trong giải thích chính sách khấu trừ thuế đầu vào của các dự án mở rộng công suất.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh trực quan qua Bảng tổng hợp kết quả nộp tờ khai và thu nộp thuế GTGT (2009 - 2013), kết hợp Biểu đồ cột so sánh tốc độ tăng trưởng sản lượng điện thương phẩm (tăng bình quân 12,5%/năm) với tốc độ tăng thu thuế GTGT (tăng bình quân 9,8%/năm). Sự chênh lệch này được lý giải bởi biến động thủy văn theo mùa và cơ chế giá tính thuế thủy điện cố định chưa bắt kịp biến động biểu giá điện giờ cao điểm và thấp điểm trên thị trường phát điện cạnh tranh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 theo Quyết định số 732/QĐ-TTg và Quy hoạch điện VII theo Quyết định số 1208/QĐ-TTg, 4 nhóm giải pháp trọng tâm cần được triển khai:

  1. Tái cấu trúc mô hình cơ quan quản lý thu: Chuyển giao toàn diện chức năng quản lý thuế đối với Tập đoàn EVN và các công ty thủy điện hạch toán phụ thuộc về Vụ Quản lý thuế Doanh nghiệp lớn trực thuộc Tổng cục Thuế. Đơn vị này trực tiếp thực hiện kê khai, tính thuế, kiểm tra tập trung và tự động trích nộp phân bổ về Kho bạc Nhà nước các địa phương, mục tiêu hoàn thành trong giai đoạn 2015 - 2017 do Tổng cục Thuế chủ trì.

  2. Chuẩn hóa công thức xác định giá tính thuế và tỷ lệ phân bổ: Bộ Tài chính ban hành Thông tư sửa đổi, quy định công thức giá tính thuế GTGT đầu ra của các nhà máy thủy điện bám sát giá hợp đồng mua bán điện (PPA) hoặc giá thị trường điện giao ngay, loại bỏ độ lệch 5% trong phân bổ doanh thu, áp dụng trước quý IV/2016.

  3. Hiện đại hóa ứng dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra thuế: Xây dựng cổng tích hợp dữ liệu tự động giữa Tổng cục Thuế và EVN để kiểm soát sản lượng điện đo đếm thời gian thực, tự động hóa quy trình phân tích rủi ro tờ khai, cắt giảm 50% thời lượng thanh tra trực tiếp tại doanh nghiệp xuống tối đa 3 ngày làm việc trong giai đoạn 2016 - 2018.

  4. Nâng cao năng lực tự chủ tài chính tại các đơn vị thành viên EVN: Hội đồng Thành viên EVN đẩy mạnh phân cấp quản trị nội bộ, giao quyền chủ động quản lý chi phí mua sắm vật tư, sửa chữa lớn cho các công ty thủy điện phụ thuộc, chuẩn hóa 100% hóa đơn chứng từ điện tử đầu vào để giảm thiểu 20% sai sót kê khai thuế từ năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng điểm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế): Khai thác các luận cứ khoa học và số liệu thực chứng 5 năm để hoàn thiện cơ chế phân bổ nghĩa vụ thuế cho các tập đoàn kinh tế nhà nước có mạng lưới cơ sở sản xuất liên tỉnh, phục vụ sửa đổi Luật Thuế GTGT và Luật Quản lý thuế.

  2. Lãnh đạo và bộ phận Tài chính - Kế toán thuộc Tập đoàn EVN và các GENCO: Sử dụng hệ thống biểu mẫu phân tích (mẫu 01/TD-GTGT và 01-2/TD-GTGT) cùng quy trình kiểm soát hóa đơn đầu vào để thiết lập hệ thống cảnh báo rủi ro thuế nội bộ, tối ưu hóa dòng tiền hoàn thuế dự án đầu tư mới.

  3. Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng, Quản lý công: Tiếp cận nguồn tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu thuế gián thu trong ngành công nghiệp mạng lưới, bổ sung tình huống thực tế cho các học phần Quản lý thuế và Tài chính doanh nghiệp.

  4. Chuyên gia tư vấn thuế và kiểm toán viên độc lập: Vận dụng phương pháp đối chiếu chỉ tiêu sản lượng phát điện với doanh thu tính thuế để thiết kế chương trình kiểm toán chuyên sâu đối với các doanh nghiệp năng lượng tái tạo và tài nguyên nước.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao nhà máy thủy điện hạch toán phụ thuộc lại phải nộp thuế GTGT tại địa phương nơi đặt nhà máy? Theo quy định quản lý thuế đặc thù, dù nhà máy hạch toán phụ thuộc không trực tiếp bán điện ra ngoài, việc phân bổ thuế GTGT căn cứ trên sản lượng phát điện thực tế nhằm bù đắp chi phí hạ tầng, môi trường và bảo đảm nguồn thu ngân sách cho địa phương nơi khai thác tài nguyên nước.

  2. Mẫu biểu kê khai thuế GTGT dành riêng cho doanh nghiệp thủy điện gồm những gì? Doanh nghiệp sử dụng Tờ khai thuế GTGT dành cho cơ sở sản xuất thủy điện theo mẫu số 01/TD-GTGT kèm theo Bảng phân bổ số thuế GTGT phải nộp của cơ sở sản xuất thủy điện cho các địa phương theo mẫu số 01-2/TD-GTGT theo quy định của Bộ Tài chính.

  3. Điểm nghẽn lớn nhất trong quản lý thuế GTGT đối với EVN giai đoạn 2009 - 2013 là gì? Điểm nghẽn lớn nhất là việc xác định giá tính thuế nội bộ và phân chia số thuế phải nộp cho các tỉnh có chung công trình thủy điện liên tỉnh còn phức tạp, thủ công, dễ dẫn đến tranh chấp số liệu giữa các Cục Thuế địa phương.

  4. Kinh nghiệm quốc tế nào có thể áp dụng ngay cho quản lý thuế thủy điện tại Việt Nam? Việt Nam có thể áp dụng mô hình quản lý tập trung các doanh nghiệp quy mô lớn tại cơ quan thuế Trung ương như mô hình của Pháp, kết hợp ngưỡng hoàn thuế tự động và cơ chế tài khoản thuế GTGT chuyên biệt như kinh nghiệm của các nước châu Âu.

  5. Việc hoàn thiện quản lý thuế thủy điện gắn liền với văn bản chiến lược nào của Chính phủ? Công tác hoàn thiện bám sát Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 theo Quyết định số 732/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hướng tới mục tiêu hiện đại hóa, minh bạch, đơn giản hóa thủ tục và xây dựng ngành thuế điện tử.

Kết luận

  • Thuế GTGT từ các nhà máy thủy điện thuộc EVN là nguồn thu chiến lược, đóng góp từ 15% đến 35% ngân sách tại các địa phương có nhà máy vận hành.
  • Cơ chế quản lý thuế giai đoạn 2009 - 2013 đã định hình được khung hành thu riêng nhưng bộc lộ nhiều điểm nghẽn về giá tính thuế, hồ sơ phân bổ liên tỉnh và kiểm tra thủ công.
  • Luận văn đóng góp hệ thống giải pháp toàn diện gồm 6 nhóm giải pháp, nổi bật là mô hình quản lý tập trung tại Tổng cục Thuế và tự động hóa kết nối dữ liệu đo đếm điện năng.
  • Lộ trình cải cách giai đoạn 2015 - 2020 cần ưu tiên hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về giá tính thuế điện trước khi triển khai số hóa 100% quy trình kiểm tra thuế tự động.
  • Các nhà quản lý chính sách và doanh nghiệp ngành năng lượng cần nhanh chóng nghiên cứu, ứng dụng các đề xuất trong luận văn nhằm tối ưu hóa hiệu quả hành thu và đảm bảo an ninh tài chính quốc gia.