Chương 1: Cơ sở lý luận về thuế giá trị gia tăng và công tác quản lý thuế giá trị gia tăng. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG VÀ QUẢN LÝ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1.
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT có những đặc điểm cơ bản sau: - Thuế GTGT là một loại thuế gián thu. Tính gián thu của thuế GTGT đƣợc biểu hiện ở việc ngƣời nộp thuế và ngƣời chịu thuế không đồng nhất với nhau.
Ngƣời mua hàng hóa, dịch vụ là ngƣời phải trả thuế GTGT thông qua giá mua hàng hóa, dịch vụ. Ngƣời bán hàng hóa, dịch vụ thực hiện nộp khoản thuế GTGT “đã đƣợc ngƣời mua trả” vào ngân sách nhà nƣớc. - Thuế GTGT là sắc thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn. Thuế GTGT đánh vào tất cả các giai đoạn của quá trình sản xuất kinh doanh, từ sản xuất, lƣu thông đến tiêu dùng, nhƣng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của mỗi giai đoạn.
Tổng số thuế GTGT thu đƣợc của tất cả các giai đoạn đúng bằng số thuế tính trên giá bán cho ngƣời tiêu dùng cuối cùng. - Thuế GTGT có tính trung lập kinh tế cao. Tính trung lập biểu hiện ở hai khía cạnh: Một là, thuế GTGT không chịu ảnh hƣởng bởi kết quả kinh doanh của ngƣời nộp thuế, do ngƣời nộp thuế chỉ là ngƣời “thay mặt” ngƣời tiêu dùng nộp hộ khoản thuế này vào ngân sách nhà nƣớc. Do vậy thuế GTGT không phải là yếu tố của chi phí sản xuất mà chỉ đơn thuần là một khoản thu đƣợc cộng thêm vào giá bán của ngƣời cung cấp hàng hóa, dịch vụ.
Hai là, thuế GTGT không bị ảnh hƣởng bởi quá trình tổ chức và phân 5 chia quá trình sản xuất kinh doanh, bởi tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng bất kể số giai đoạn nhiều hay ít. - Thuế GTGT có tính chất lũy thoái so với thu nhập, vì nó không tính đến khả năng thu nhập của ngƣời chịu thuế, ngƣời có thu nhập cao hay thấp đều phải chịu thuế nhƣ nhau nếu cùng mua một loại hàng hoá, dịch vụ. Tuy nhiên, tỷ lệ thu nhập nộp thuế của những ngƣời có thu nhập thấp sẽ cao hơn tỷ lệ nộp thuế của ngƣời có thu nhập cao nếu so với tổng thu nhập trong kỳ, bởi lẽ tốc độ tăng tiêu dùng bao giờ cũng thấp hơn tốc độ tăng thu nhập. - Về phạm vi đánh thuế, thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ.
Đặc điểm này tạo ra sự công bằng trong những giao dịch quốc tế thông qua việc không thu thuế đối với hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu và đánh thuế đối với hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu. Vai trò của thuế giá trị gia tăng Trong nền kinh tế hiện đại, thuế không chỉ là công cụ thu ngân sách nhà nƣớc mà còn là công cụ quan trọng của Nhà nƣớc để quản lý, kiểm soát, điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhà nƣớc sử dụng công cụ thuế nhằm hƣớng dẫn, điều tiết các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, thực hiện chính sách phân phối và phân phối lại, điều tiết thu nhập, giải quyết công bằng xã hội… Trong đó, với vị thế là một khoản thu chiếm tỷ trọng lớn trong số thu ngân sách nhà nƣớc, thuế GTGT có vai trò rất to lớn, tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội. Có thể khái quát các vai trò đó thành ba vai trò cơ bản nhƣ sau: Thứ nhất, thuế GTGT là nguồn thu quan trọng của ngân sách nhà nước.
Thuế GTGT là công cụ tập trung, huy động đầy đủ, kịp thời nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc. Thuế GTGT tập trung thu ngay từ khâu đầu (sản 6 xuất hoặc nhập khẩu) nên đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nƣớc, hạn chế thất thu. Thuế GTGT đƣợc tính và thu vào từng khâu, từng giai đoạn của quá trình sản xuất, kinh doanh nên làm tăng nguồn thu và đảm bảo huy động kịp thời cho ngân sách nhà nƣớc. Việc khấu trừ thuế GTGT đƣợc thực hiện căn cứ trên hoá đơn mua hàng đã thúc đẩy ngƣời mua phải đòi hỏi ngƣời bán xuất hoá đơn, ghi đúng doanh thu với giá trị thực của hoạt động mua bán, góp phần khắc phục đƣợc tình trạng thông đồng giữa ngƣời mua và ngƣời bán để trốn lậu thuế, giảm thất thu cho ngân sách nhà nƣớc.
Ở Việt Nam, tỷ lệ thuế GTGT trong tổng số thu ngân sách nhà nƣớc hàng năm (trừ dầu thô) chiếm khoảng 27%. Thứ hai, thuế GTGT là công cụ điều tiết vĩ mô và vi mô nền kinh tế. - Thuế GTGT điều tiết sản xuất và tiêu dùng. Luật thuế GTGT quy định đánh thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế với thuế suất cao hay thấp vào các mặt hàng cụ thể, thông qua đó tác động và làm thay đổi mối quan hệ giữa cung và cầu trên thị trƣờng, tác động tới việc lựa chọn những hàng hoá, dịch vụ để sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng, góp phần thực hiện điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
- Thuế GTGT khuyến khích hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất. Trong hoạt động đầu tƣ tài sản cố định, toàn bộ số thuế GTGT mà doanh nghiệp phải trả khi mua sắm tài sản cố định sẽ đƣợc Nhà nƣớc cho khấu trừ hoặc hoàn lại. Còn khi nhập khẩu máy móc thiết bị, phƣơng tiện vận tải chuyên dùng nằm trong dây chuyền công nghệ và vật tƣ xây dựng thuộc loại trong nƣớc chƣa sản xuất đƣợc cần nhập khẩu để tạo tài sản cố định cho doanh nghiệp thì doanh nghiệp cũng không phải nộp thuế GTGT. Đồng thời việc thuế GTGT không đánh vào vốn đầu tƣ đã làm cho giá thành các công trình đầu tƣ trong nƣớc giảm rất nhiều.
Do đó, thuế GTGT đã góp phần khuyến khích đầu tƣ đổi mới công nghệ, thúc đẩy phát triển sản xuất, kinh doanh và 7 lƣu thông hàng hoá. - Thuế GTGT khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu, góp phần bảo hộ sản xuất trong nƣớc. Hàng hoá xuất khẩu đƣợc áp dụng thuế suất thuế GTGT 0%, số thuế GTGT đầu vào mà doanh nghiệp đã nộp thì sẽ đƣợc Nhà nƣớc cho khấu trừ hoặc hoàn lại, nên có tác dụng giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh về giá hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu trên thị trƣờng quốc tế. Thuế GTGT là động lực khuyến khích sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, tăng cƣờng sự hợp tác thƣơng mại giữa Việt Nam với các nƣớc trên thế giới.
- Thuế GTGT góp phần điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối. Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trƣờng là có sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cƣ trong xã hội. Kinh tế thị trƣờng càng phát triển thì khoảng cách giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cƣ ngày càng có xu hƣớng gia tăng. Thuế GTGT áp dụng mức thuế suất cao đối với các loại hàng hoá, dịch vụ cao cấp mà chỉ những ngƣời có thu nhập cao mới sử dụng hoặc sử dụng nhiều hơn, còn đối với các hàng hoá thông thƣờng hoặc có tính chất thiết yếu thì thuế GTGT quy định mức thuế suất thấp hơn, qua đó điều tiết một phần thu nhập của họ.
- Thuế GTGT khuyến khích tăng hiệu quả sản xuất. Trong nền kinh tế thị trƣờng, giá cả hàng hoá đƣợc bán ra phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố cung cầu, nó phải đƣợc ngƣời tiêu dùng chấp nhận, ngƣời sản xuất khó có thể thay đổi giá cả theo ý mình. Do đó việc Nhà nƣớc đánh thuế sẽ làm giảm doanh thu thuần của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp không cố gắng nâng cao hiệu quả sản xuất để giảm bớt chi phí. Điều đó đã thúc đẩy các doanh nghiệp phải luôn luôn cải tiến kỹ thuật, khuyến khích chuyên môn hoá, hợp tác hoá sản xuất, nâng cao năng suất, thúc đẩy nền sản xuất phát triển.
- Thuế GTGT thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện chế độ hạch toán, 8 kế toán, phát triển quan hệ thanh toán. Việc doanh nghiệp đƣợc phép khấu trừ thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ mua vào cùng với việc thực hiện hoàn thuế GTGT của Nhà nƣớc đã khuyến khích các doanh nghiệp tự giác ghi chép, quản lý, sử dụng hoá đơn, chứng từ, thúc đẩy việc hoàn thiện công tác hạch toán, kế toán tại đơn vị. Ngoài ra, việc thuế GTGT đòi hỏi những doanh nghiệp có hàng hoá xuất khẩu phải thanh toán qua ngân hàng thì mới đƣợc hoàn thuế đã thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện thanh toán qua hệ thống ngân hàng, góp phần phát triển hệ thống thanh toán. Thứ ba, thuế GTGT là công cụ kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh của các thành phần kinh tế.
Vai trò này hình thành ngay trong quá trình tổ chức thực hiện Luật thuế GTGT trong thực tế. Để đảm bảo thu đƣợc thuế và thực hiện đúng các quy định của chính sách thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lƣợng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ đƣợc phép kinh doanh cũng nhƣ các định mức chi tiêu đặc thù và các phƣơng thức hạch toán riêng có. Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi biện pháp tháo gỡ. Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật đƣợc nhiều kiến thức quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này.
Nhƣ vậy, qua công tác quản lý thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nƣớc về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Nội dung cơ bản của Luật thuế giá trị gia tăng 1.