Tổng quan nghiên cứu

Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, công nghiệp luyện kim và khai khoáng trọng điểm của vùng trung du miền núi phía Bắc, sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng như than đá, quặng sắt, apatit, cát sỏi và đá xây dựng với hơn 54 doanh nghiệp đang hoạt động khai thác trên địa bàn. Trong cơ cấu tài chính công, nguồn thu từ thuế tài nguyên đóng vai trò then chốt khi điều tiết 100% cho ngân sách địa phương và chiếm khoảng 10% tổng thu ngân sách nhà nước trên toàn quốc. Nguồn tài chính này là trụ cột quan trọng để địa phương tái đầu tư cơ sở hạ tầng, khắc phục suy thoái môi trường và phục vụ an sinh xã hội.

Tuy nhiên, công tác quản lý thu thuế tài nguyên tại Thái Nguyên đang đối mặt với nhiều thách thức gay gắt. Hoạt động khai thác trái phép, khai thác vượt công suất cấp phép, gian lận sản lượng tính thuế và tình trạng nợ đọng kéo dài làm thất thoát nguồn thu ngân sách đáng kể. Mặc dù số thu thuế tài nguyên của tỉnh từng ghi nhận mức tăng trưởng 108,3% vào năm 2013 và 113,5% vào năm 2014, tỷ trọng thuế tài nguyên trong tổng thu ngân sách tỉnh giai đoạn sau đó vẫn chưa tương xứng với tiềm năng khoáng sản hiện có.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá toàn diện thực trạng quản lý thu thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn 2017 - 2019, phân tích các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến hiệu quả thu ngân sách, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ định hướng đến năm 2025. Về phạm vi không gian, đề tài khảo sát trên toàn bộ 9 đơn vị hành chính cấp huyện, thành phố, thị xã thuộc quyền quản lý của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu cung cấp hệ thống chỉ số đo lường hiệu quả quản lý, giúp nâng cao tỷ lệ nộp đúng hạn hồ sơ khai thuế và giảm tỷ lệ nợ đọng thuế khoáng sản xuống mức an toàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết tài chính công cổ điển của Gaston Jèze (1934) cùng lý thuyết điều tiết kinh tế vĩ mô để khẳng định thuế tài nguyên là công cụ chuyển giao nguồn lực bắt buộc từ khu vực tư sang khu vực công nhằm bù đắp tổn thất môi trường và tái tạo tài nguyên quốc gia. Đồng thời, tác giả kết hợp lý thuyết hành vi tuân thủ thuế để phân tích động cơ kinh tế của người nộp thuế trong môi trường kinh doanh khoáng sản.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng dựa trên cơ chế quản lý thuế theo 4 chức năng cốt lõi của ngành thuế hiện đại:

  • Tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế: Nâng cao mức độ am hiểu và tính tự giác chấp hành pháp luật thuế.
  • Kê khai và kế toán thuế: Giám sát quy trình tiếp nhận, xử lý tờ khai và cấp mã số thuế cho các mỏ khai thác.
  • Quản lý nợ và cưỡng chế nợ thuế: Kiểm soát dòng tiền nợ đọng, áp dụng các biện pháp thu hồi nợ thuế khoáng sản.
  • Thanh tra, kiểm tra thuế: Phát hiện gian lận sản lượng, đối chiếu định mức tiêu hao nguyên liệu và truy thu ngân sách.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa dựa trên Luật Thuế tài nguyên số 45/2009/QH12, Luật sửa đổi số 71/2014/QH13 và Thông tư 152/2015/TT-BTC. Căn cứ tính thuế tài nguyên bao gồm: sản lượng tài nguyên thương phẩm thực tế khai thác, giá tính thuế tài nguyên do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành (không bao gồm thuế giá trị gia tăng) và thuế suất thuế tài nguyên quy định tại Nghị quyết 1084/2015/UBTVQH13.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn từ tháng 1/2020 đến tháng 2/2020:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các báo cáo quyết toán thu ngân sách giai đoạn 2017 - 2019 của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên, Tổng cục Thuế, Sở Tài nguyên và Môi trường, Cục Thống kê và Kho bạc Nhà nước tỉnh Thái Nguyên.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Khảo sát thực tế thông qua 2 bộ phiếu điều tra sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (từ 1,0 đến 1,8: Không hài lòng; từ 1,81 đến 2,6: Hài lòng ít; từ 2,61 đến 3,4: Bình thường/Khá; từ 3,41 đến 4,2: Hài lòng/Tốt; từ 4,21 đến 5,0: Rất hài lòng/Rất tốt).

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu:

  • Nhóm doanh nghiệp: Trên tổng số 54 doanh nghiệp khai thác khoáng sản trên địa bàn, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng đại diện, khảo sát 03 doanh nghiệp trên mỗi địa bàn thuộc 9 đơn vị hành chính (gồm thành phố Thái Nguyên, thị xã Sông Công, các huyện Đại Từ, Định Hóa, Đồng Hỷ, Phú Bình, Phú Lương, Võ Nhai, Phổ Yên), tổng cộng thu được 27 phiếu hợp lệ.
  • Nhóm cán bộ thuế: Tổng thể gồm 153 công chức đang công tác tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên. Áp dụng công thức Slovin với mức sai số cho phép e = 5%, cỡ mẫu lý thuyết xác định là 110,67 cán bộ, thực tế đã phát ra và thu về 111 phiếu điều tra đạt chuẩn.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thống kê mô tả và thống kê so sánh (số tuyệt đối, số tương đối, tốc độ tăng trưởng liên hoàn) kết hợp xử lý trên phần mềm Excel là nhằm phản ánh khách quan biến động nguồn thu, phân tích định lượng chính xác sự tương quan giữa năng lực quản trị bộ máy thuế với mức độ hài lòng của người nộp thuế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô thu thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2017 - 2019 có sự gia tăng về số tuyệt đối nhưng tốc độ tăng trưởng thiếu ổn định và chưa tương xứng với tiềm năng thực tế của 54 đơn vị khai thác khoáng sản. Mặc dù địa phương từng đạt mức tăng trưởng ấn tượng trong quá khứ như năm 2013 tăng 108,3% so với 2012 và năm 2014 tăng 113,5% so với 2013, số thu thuế tài nguyên giai đoạn khảo sát vẫn chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong tổng thu ngân sách nội địa toàn tỉnh.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên được nâng cao rõ rệt với tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học và trên đại học đạt mức cao trong tổng số 153 cán bộ toàn đơn vị. Tuy nhiên, tỷ lệ phân bổ cán bộ làm việc trực tiếp tại 4 chức năng quản lý thu thuế tài nguyên chưa thực sự đồng đều, dẫn đến khối lượng công việc bình quân trên một công chức tại các bộ phận thanh tra, kiểm tra và quản lý nợ luôn ở mức quá tải.

Thứ ba, tỷ lệ người nộp thuế thực hiện nộp tờ khai thuế tài nguyên qua mạng và nộp đúng hạn đạt trên 90%, nhưng độ chính xác của các chỉ tiêu kê khai còn nhiều bất cập. Qua công tác thanh tra và kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế, tỷ lệ doanh nghiệp bị phát hiện có sai phạm về sản lượng và áp sai khung giá tính thuế vẫn ở mức cao, số thuế truy thu và xử phạt vi phạm hành chính bình quân trên một cuộc thanh tra ghi nhận nhiều sai lệch đáng kể.

Thảo luận kết quả

Thực trạng thất thu thuế tài nguyên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về mặt khách quan, địa bàn khai thác khoáng sản của 9 huyện, thành phố chủ yếu nằm ở vùng sâu, địa hình hiểm trở, gây khó khăn cho công tác giám sát sản lượng khai thác thực tế tại cửa mỏ. Về mặt chủ quan, một số doanh nghiệp cố tình che giấu sản lượng, kê khai thiếu khối lượng khoáng sản thương phẩm nhằm tối đa hóa lợi nhuận. Cơ chế chia sẻ thông tin dữ liệu số giữa Cục Thuế, Sở Tài nguyên và Môi trường cùng lực lượng Công an tỉnh còn mang tính hình thức, thiếu tính liên thông thời gian thực.

So sánh với kinh nghiệm thực tiễn từ tỉnh Hải Dương, khi địa phương này triển khai đề án liên ngành năm 2008 đã đưa 143 đối tượng khai thác vào diện quản lý, thu nộp ngân sách hơn 21,6 tỷ đồng, phát hiện 43 doanh nghiệp ma buôn bán hóa đơn giá trị gia tăng và truy thu xử phạt gần 10 tỷ đồng. Tương tự, tại tỉnh Bắc Giang, số thu thuế tài nguyên năm 2013 đạt 1.209 triệu đồng (tăng 117,37%) và năm 2014 vọt lên 8.441 triệu đồng (tăng 598,04%) nhờ kiểm soát chặt chẽ điểm mỏ và hóa đơn nguồn gốc khoáng sản. Điều này chứng minh rằng việc siết chặt kiểm tra liên ngành là yếu tố sống còn để chống thất thu.

Để trực quan hóa các kết quả nghiên cứu, dữ liệu có thể được trình bày thông qua bảng so sánh tình hình thực hiện dự toán thu thuế tài nguyên giai đoạn 2017 - 2019 và biểu đồ cột phản ánh mức độ hài lòng của 27 doanh nghiệp theo thang đo Likert (từ 1,0 đến 5,0 điểm) đối với từng khâu: cơ chế chính sách, giải đáp thủ tục qua điện thoại/email, thái độ phục vụ của cán bộ và quy trình thanh tra kiểm tra.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện công tác quản lý thu thuế tài nguyên trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể với định hướng thực thi đến năm 2025:

  • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền và hỗ trợ người nộp thuế: Đa dạng hóa các kênh phổ biến chính sách thuế mới, tổ chức định kỳ các hội nghị đối thoại doanh nghiệp khai khoáng; phấn đấu nâng tỷ lệ hồ sơ khai thuế tài nguyên nộp đúng hạn đạt trên 98% và nâng điểm đánh giá mức độ hài lòng của 27 doanh nghiệp khảo sát từ mức trung bình 3,2 điểm lên mức hài lòng trên 4,2 điểm Likert trong giai đoạn 2021 - 2023 do Phòng Tuyên truyền - Hỗ trợ người nộp thuế chủ trì.
  • Nâng cao hiệu lực thanh tra, kiểm tra và chống thất thu: Tăng cường rà soát chuyên đề đối với các mỏ khai thác than, quặng sắt, cát sỏi; áp dụng kỹ thuật quản lý rủi ro để thanh tra tối thiểu 80% các doanh nghiệp có dấu hiệu gian lận sản lượng; phấn đấu giảm tỷ lệ nợ đọng thuế tài nguyên xuống dưới 5% tổng thu thực hiện hàng năm trong giai đoạn 2021 - 2025 do Phòng Thanh tra - Kiểm tra phối hợp Phòng Quản lý nợ thực hiện.
  • Kiện toàn bộ máy và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ: Tổ chức tập huấn chuyên sâu về kỹ năng đối chiếu bản đồ địa chất mỏ, xác định hàm lượng khoáng sản cho 100% cán bộ thuộc 4 bộ phận chức năng trong tổng số 153 công chức Cục Thuế; gắn chỉ tiêu thu thuế tài nguyên với quy chế đánh giá thi đua khen thưởng định kỳ hàng năm do Phòng Tổ chức cán bộ điều hành từ năm 2021.
  • Tăng cường quy chế phối hợp liên ngành và ứng dụng công nghệ giám sát: Kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Nguyên chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường phối hợp Cục Thuế và Công an tỉnh lắp đặt hệ thống camera giám sát và trạm cân tự động tại 100% các điểm mỏ được cấp phép khai thác trước năm 2024, buộc các cơ sở tiêu thụ khoáng sản phải xuất trình hóa đơn hợp pháp khi lưu thông nhằm ngăn chặn triệt để khoáng sản lậu.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu mang lại giá trị ứng dụng thiết thực và là nguồn tài liệu hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  • Cán bộ lãnh đạo và công chức ngành thuế: Đặc biệt là công chức đang công tác tại các Chi cục Thuế và Cục Thuế thuộc các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc có điều kiện địa chất tương đồng; cung cấp cẩm nang thực hành về quy trình kiểm soát rủi ro kê khai và các biện pháp cưỡng chế nợ đọng thuế khoáng sản hiệu quả.
  • Cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Tài chính và Sở Tài nguyên và Môi trường có thể ứng dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng quy chế phối hợp liên ngành, đồng thời rà soát và điều chỉnh bảng giá tính thuế tài nguyên sát với biến động giá thị trường tự do.
  • Cộng đồng doanh nghiệp và kế toán ngành khai khoáng: Giúp các doanh nghiệp khai thác 54 mỏ khoáng sản trên địa bàn nắm vững quy định pháp lý, nắm rõ cách tính sản lượng tài nguyên chịu thuế theo Thông tư 152/2015/TT-BTC nhằm tránh các rủi ro pháp lý về truy thu và xử phạt vi phạm hành chính.
  • Giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật giá trị về chuyên ngành Quản lý kinh tế, minh họa phương pháp ứng dụng công thức Slovin xác định cỡ mẫu 111 cán bộ trên tổng thể 153 người và quy trình phân tích dữ liệu Likert trong kinh tế công.

Câu hỏi thường gặp

Thuế tài nguyên đóng vai trò như thế nào đối với ngân sách và môi trường tại tỉnh Thái Nguyên?
Thuế tài nguyên là nguồn thu điều tiết 100% cho ngân sách địa phương, chiếm khoảng 10% tổng thu ngân sách nhà nước trên toàn quốc. Nguồn thu này cung cấp kinh phí trực tiếp để tỉnh Thái Nguyên đầu tư hoàn thiện hạ tầng giao thông vùng mỏ, thực hiện các dự án hoàn nguyên đất đai và giảm thiểu ô nhiễm môi trường sinh thái do hoạt động khai khoáng gây ra.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng thất thu thuế tài nguyên tại Thái Nguyên là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do địa bàn 54 mỏ khoáng sản phân tán tại 9 huyện, thành phố vùng sâu hiểm trở khiến việc kiểm soát sản lượng thực tế gặp khó khăn. Thêm vào đó, nhiều doanh nghiệp cố tình khai man sản lượng, trốn tránh nghĩa vụ thuế và sự phối hợp giữa Cục Thuế với Sở Tài nguyên và Môi trường chưa đạt mức độ liên thông dữ liệu số hóa liên tục.

Đề tài đã sử dụng phương pháp chọn mẫu khảo sát nào để đảm bảo tính đại diện khoa học?
Nghiên cứu chọn mẫu phân tầng 27 trên tổng số 54 doanh nghiệp (khảo sát 03 doanh nghiệp/huyện trên 9 đơn vị hành chính) và áp dụng công thức Slovin với sai số 5% để chọn mẫu 111 cán bộ trên tổng thể 153 công chức Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên, kết hợp thang đo Likert 5 điểm để phân tích định lượng.

Bài học kinh nghiệm từ Hải Dương và Bắc Giang giúp ích gì cho công tác quản lý thuế của Thái Nguyên?
Kinh nghiệm từ Hải Dương (truy thu gần 10 tỷ đồng và xử lý 43 doanh nghiệp ma) và Bắc Giang (tăng thu thuế tài nguyên 598,04% năm 2014) khẳng định rằng việc thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành, truy vết hóa đơn đầu vào và kiểm soát trạm cân tại mỏ là giải pháp quyết định để bịt lỗ hổng thất thu ngân sách.

Mục tiêu trọng tâm của Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên đến năm 2025 trong quản lý thuế tài nguyên là gì?
Mục tiêu là đưa 100% doanh nghiệp khai khoáng vào diện quản lý kê khai điện tử, nâng tỷ lệ nộp tờ khai đúng hạn đạt trên 98%, kiểm soát tỷ lệ nợ đọng thuế khoáng sản dưới mức 5% tổng thu thực hiện và số hóa toàn bộ dữ liệu sản lượng khai thác liên thông với cơ quan tài nguyên môi trường.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý thu thuế tài nguyên theo 4 chức năng cốt lõi, gắn liền với các văn bản pháp luật hiện hành như Luật Thuế tài nguyên và Thông tư 152/2015/TT-BTC.
  • Đánh giá thực chất bức tranh quản lý thu thuế tài nguyên tại Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2017 - 2019, chỉ rõ tiềm năng khoáng sản lớn với 54 doanh nghiệp nhưng số thu còn thất thoát và nợ đọng cao.
  • Phân tích khoa học dữ liệu khảo sát từ 111 cán bộ thuế trên tổng số 153 công chức và 27 doanh nghiệp trên 9 địa bàn hành chính, xác định rõ điểm nghẽn trong công tác phối hợp liên ngành và giám sát sản lượng.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đột phá, tập trung vào số hóa quy trình kê khai, tăng cường thanh tra chuyên đề và lắp đặt trạm cân tự động tại cửa mỏ với lộ trình thực hiện đến năm 2025.
  • Nghiên cứu đóng góp giá trị thực tiễn to lớn cho công tác hoạch định chính sách thu ngân sách và hoàn thiện quản trị công tại các địa phương có thế mạnh khoáng sản.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, Cục Thuế tỉnh Thái Nguyên và các cơ quan liên quan cần khẩn trương ban hành kế hoạch hành động giai đoạn 2021 - 2025, ứng dụng công nghệ giám sát số và nâng cao tinh thần thượng tôn pháp luật thuế trong toàn ngành khai khoáng.