Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHI NGÂN SÁCH VÀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm, hệ thống và phân cấp quản lý ngân sách nhà nước 1. Khái niệm ngân sách nhà nước Theo Luật NSNN năm 2002: Ngân sách nhà nước là toàn ộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ uan nhà nước có thẩm uyền uyết định và được thực hiện trong một năm để ảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Luật NSNN năm 201 đã đưa ra định nghĩa về NSNN như sau: Ngân sách nhà nước là toàn ộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ uan nhà nước có thẩm uyền uyết định để ảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước.
Như vậy, NSNN chính là tất cả các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ uan có thẩm LVTS Quản uyền uyết định (Ở trị Việt kinh Nam là doanh Quốc Hội), các khoản thu, chi đó được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định (thường là 01 năm) và để ảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. ản chất của NSNN là các mối uan hệ lợi ích kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể khác ở trong và ngoài nước gắn liền với uá trình tạo lập, phân phối và sử dụng uỹ ngân sách. Hệ thống ngân sách nhà nước Hệ thống NSNN là tổng thể ngân sách của các cấp chính uyền nhà nước. Tổ chức hệ thống ngân sách chịu tác động ởi nhiều yếu tố mà trước hết đó là chế độ xã hội của một nhà nước và phân chia lãnh thổ hành chính.
Thông thường ở các nước hệ thống ngân sách được tổ chức ph hợp với hệ thống hành chính. Hầu hết các uốc gia trên thế giới đều có sự phân chia NSNN thành ngân sách trung ương (NSTW) và ngân sách địa phương (NSĐP). Chẳng hạn, hệ thống NSNN của Hoa Kỳ được tổ chức thành 3 cấp: NS liên ang, NS ang và NS cấp dưới ang. Ngân sách của liên ang và các ang về cơ ản là độc lập với nhau.
ỗi cấp ngân sách có uyền khai thác các nguồn thu trên địa àn trong phạm vi uản lý để thực hiện các 7 nhiệm vụ chi trên địa àn. Hệ thống NSNN của Hoa Kỳ được thể hiện ua sơ đồ 1.1 sau: NSNN NS liên bang NS bang NSĐP Sơ đồ 1.1: Hệ thống ngân sách của Hoa Kỳ (Nguồn: tác giả) Trung Quốc uy định mỗi cấp chính uyền có một cấp ngân sách, hệ thống NSNN gồm cấp: Trung ương; tỉnh (khu tự trị, thành phố trực thuộc); thành phố thuộc khu (châu tự trị); huyện (huyện tự trị, thành phố không thuộc khu, khu trực thuộc thành phố); xã (xã dân tộc, thị trấn). Tại các uốc gia, NSTW huy động các LVTS khoản thu lớn để Quản ảo ảo thực hiệntrị các kinh doanh nhiệm vụ uan trọng, chiến lược của uốc gia, có tác động sâu rộng tới xã hội. NSĐP huy động các khoản thu và đảm ảo các nhiệm vụ chi có tính chất địa phương.
NS TW NS Tỉnh NSNN NS Thành phố NS Huyện NS Xã Sơ đồ 1.2: Hệ thống ngân sách của Trung Quốc (Nguồn: tác giả) Ở Việt Nam, NSNN ao gồm NSTW và NSĐP. NSTW là NS của các ộ, cơ uan ngang ộ, cơ uan thuộc Chính phủ và các cơ uan khác ở trung ương; NSTW được sử dụng để thực hiện những nhiệm vụ uan trọng, chiến lược của uốc gia và 8 hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu, chi NS. NSĐP ao gồm NS của các cấp chính uyền địa phương (NS cấp tỉnh, NS cấp huyện, NS cấp xã). ỗi một cấp chính uyền có một cấp NS để ảo đảm cho chính uyền đó hoạt động và thực hiện các nhiệm vụ được giao.
NSĐP được phân cấp nguồn thu ảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao. Hệ thống NSNN ở Việt Nam thể hiện ua sơ đồ 1.3: NSTW NSNN NS ĐP NS cấp tỉnh NS cấp huyện LVTS Quản trịNSkinh cấp xã doanh Sơ đồ 1.3: Hệ thống NSNN ở Việt Nam (Nguồn: Theo Luật NSNN 2002, 2015) 1. Phân cấp quản lý NSNN Về lý thuyết, uản lý và điều hành NSNN có thể tập trung mọi uyền lực vào chính uyền trung ương. Tuy nhiên, trong trường hợp này sẽ tạo ra tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào trung ương của các địa phương; không phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các địa phương; các địa phương không có động lực phấn đấu để tăng thu NSNN và với nguồn lực có hạn, việc phân ổ nguồn lực này dễ ị lãng phí, không đáp ứng đúng đắn và kịp thời nhu cầu của người dân.
Do đó, trên thực tế các nhà nước đều thực hiện việc phân cấp uản lý ngân sách ở mức độ nhất định cho chính uyền địa phương. ục tiêu cốt lõi của phân cấp uản lý NSNN là nhằm đảm ảo nguồn lực tài chính nhà nước được huy động, phân ổ và sử dụng một cách hiệu uả nhất. 9 Phân cấp uản lý NSNN là việc xác định phạm vi trách nhiệm và uyền hạn của chính uyền Nhà nước từ trung ương tới các địa phương trong việc uản lý NSNN. Phân cấp uản lý NSNN thực chất là giải uyết mối uan hệ giữa chính uyền trung ương và chính uyền địa phương trên 3 phương diện sau: Thứ nhất, xác định về thẩm uyền của chính uyền các cấp trong việc an hành các chính sách, chế độ thu-chi; tiêu chuẩn, định mức chi NSNN.
Đối với các nước theo thể chế liên ang, chính uyền địa phương có uyền tự uyết cao, được uyền an hành các chính sách thuế, chế độ chi tiêu ph hợp với địa phương. Còn đối với các nước theo thể chế nhà nước đơn nhất, uyền an hành chính sách thuế được tập trung tại trung ương, chính uyền địa phương hầu như không có tác động gì tới chính sách thuế, việc trao thẩm uyền cho các địa phương uyết định một số loại thu còn hạn chế. Ở Việt Nam, chính uyền địa phương (HĐND cấp tỉnh) được uyền uyết định một số chế độ thu phí, lệ phí và các khoản đóng góp của nhân dân theo uy định của pháp luật, được uyền uyết định cụ thể định mức phân LVTS ổ và chếQuản trị kinh độ, tiêu chuẩn doanh định mức chi áp dụng cho địa phương dựa trên khung hướng dẫn. Theo uy định tại Luật NSNN 2002, HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có uyền uyết định việc phân cấp nguồn thu cho chính uyền cấp huyện, cấp xã trong phạm vi được phân cấp, song một số khoản thu phân cấp được uy định cụ thể như: (1) Phân cấp tối thiểu 70% các khoản thu thuế chuyển uyền sử dụng đất; thuế nhà đất; thuế môn ài thu từ cá nhân, hộ kinh doanh; thuế sử dụng đất nông nghiệp thu từ hộ gia đình; lệ phí trước ạ nhà, đất cho NS xã, thị trấn; (2) Phân cấp tối thiểu 0% khoản thu lệ phí trước ạ, không kể lệ phí trước ạ nhà, đất.
Điều này làm hạn chế thực uyền của chính uyền địa phương. Thứ hai, xử lý hài hòa mối uan hệ về phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi Thực chất của nội dung này là phân chia nguồn thu và nhiệm vụ chi cho từng cấp NS, giữa NSTW và NSĐP, giữa các cấp NSĐP với nhau. Đây là nội dung trọng tâm của phân cấp uản lý NSNN và là vấn đề nan giải, phức tạp. Để có thể đảm ảo hài hòa lợi ích giữa các cấp ngân sách, giữa các địa phương với nhau luôn là ài toán khó.
Hai vấn đặt ra khi thiết kế hệ thống phân cấp 10 (chia sẻ) nguồn thu là: Phạm vi nguồn thu chia sẻ và tỷ lệ chia sẻ. Ở các uốc gia khác nhau, phạm vi chia sẻ và tỷ lệ chia sẻ cũng được xác định khác nhau. Nhưng đều có điểm chung là việc phân cấp nguồn thu, nhiệm vụ chi phải đảm ảo NSTW giữ vai trò chủ đạo để thực hiện các nhiệm vụ chi có tính chiến lược, uan trọng của uốc gia. Đồng thời NSĐP được phân cấp nguồn thu để đảm ảo chủ động thực hiện những nhiệm vụ chi được giao.
Thứ ba, giải uyết mối uan hệ về nhiệm vụ và uyền hạn của các cơ uan, chính uyền các cấp trong chu trình NSNN. Chu trình NS hay còn gọi là uy trình NS d ng để chỉ toàn ộ hoạt động của một NS kể từ khi ắt đầu hình thành cho tới khi kết thúc chuyển sang NS mới. Chu trình NS ao gồm tất cả các khâu: chuẩn ị NS, lập NS, duyệt, phân ổ, giao, chấp hành, uyết toán, thanh tra, kiểm tra, uyết toán NS (gọi chung là lập, chấp hành và uyết toán). ức độ tham gia điều hành và kiểm soát của cơ uan uyền lực, cơ uan hành chính Nhà nước và các cơ uan chuyên môn đối với các cấp NS đến đâu chính là thể hiện tính chất của phân cấp trong toàn ộ hệ thống.
Chi ngân sách Quản trị kinh doanh nhà nước 1. Khái niệm và đ c đi m chi ngân sách nhà nước nệ Khái niệm chi tiêu công về cả lý thuyết lẫn thực tế, có uan hệ trực tiếp và không thể tách rời các hoạt động của nhà nước nhằm hai mục đích chính: cải thiện phân phối thu nhập trong xã hội, hoặc tạo điều kiện nâng cao hiệu uản của nền kinh tế. ét từ góc độ nền kinh tế nói chung ( uan điểm kinh tế công cộng), chi tiêu công được xem là các khoản chi phí gắn liền với việc cung cấp các hàng hoá và dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội về hàng hoá công cộng. Như vậy nó có thể ao gồm cả chi phí cung cấp hàng hóa dịch vụ từ ngân sách nhà nước lẫn từ khu vực tư nhân theo uy định của pháp luật.
Hay nói cách khác, chi tiêu công là các khoản chi tiêu của chính uyền trung ương, chính uyền địa phương, các doanh nghiệp nhà nước (khu vực nhà nước) và của toàn dân khi cùng tham gia vào các hoạt động do chính phủ uản lý. Đây là một khái niệm tương đối rộng và đang dần dần được đưa ra hiện nay. 11 Chi tiêu công cũng có thể hiểu là giá trị của hàng hoá và dịch vụ được nhà nước và các cơ uan nhà nước mua sắm. Theo uan điểm này, chi tiêu công không ao gồm chi tiêu của các doanh nghiệp nhà nước.
Chi phí mua sắm này được trang trải từ nguồn thu thuế, vay nợ trong nước, vay nợ, viện trợ nước ngoài.[6] ét từ góc độ hẹp hơn của chi tiêu công là các khoản chi tiêu của chính phủ nhằm đạt nhiều mục đích khác nhau: về kinh tế, xã hội lẫn cả mục đích chính trị.