CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Trải qua quá trình hình thành và phát triển hàng trăm năm cùng lịch sử phát triển kinh tế thị trường, đã có rất nhiều định nghĩa về tổ chức tài chính này: Tại nền kinh tế lớn nhất thế giới – Mỹ, NHTM được định nghĩa là công ty kinh doanh tiền tệ, chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động trong ngành công nghiệp dịch vụ tài chính. Còn luật ngân hàng của Đan Mạch (1930) quy định: “Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và hành nghề địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm,…” Ở Việt Nam, Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM) đưa ra khái niệm NHTM như sau: ngân hàng thương mại là tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. Từ những nhận định trên có thể thấy NHTM là một trong những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội.2 Phân loại ngân hàng thương mại Nhìn chung NHTM được phân loại dựa trên 2 tiêu thức sau: a.
Dựa vào hình thức sở hữu: - Ngân hàng tư nhân: Các cá nhân sử dụng tài sản và vốn của mình để thành lập ngân hàng và có trách nhiệm toàn bộ đối với việc lãi/ lỗ của ngân hàng. Tuy nhiên, hình thức NHTM này chưa xuất hiện tại Việt Nam. - Ngân hàng cổ phần: được thành lập dựa trên việc góp vốn của các cá nhân và tổ chức. Các cá nhân và tổ chức này được gọi là cổ đông, và được nhận cố tức nếu ngân hàng hoạt động hiệu quả.
Ví dụ: Ngân hàng TMCP Quốc dân – NCB, Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam - Ngân hàng sở hữu nhà nước: được thành lập từ nguồn vốn do nhà nước cấp. Ví dụ: Ngân hàng TMCP Vietin Bank - Ngân hàng liên doanh: được thành lập từ nguồn vốn của hai hoặc nhiều bên (trong đó tại Việt Nam, loại hình ngân hàng thường tồn tại dưới hình thức góp vốn giữa ngân hàng trong nước và ngân hàng nước ngoài). Ví dụ: Ngân hàng liên doanh Việt Nga b. Dựa vào chiến lược kinh doanh - Ngân hàng bán lẻ: cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho các khách hàng cá nhân - Ngân hàng bán buôn: Khác với ngân hàng bán lẻ, các khách hàng của ngân hàng bán buôn là các tập đoàn, công ty, tổ chức.
- Ngân hàng vừa bán buôn, vừa bán lẻ: là sự kết hợp giữa ngân hàng bán lẻ và bán buôn, vì vậy, khách hàng của nó vừa là các tập đoàn, công ty, vừa là các cá nhân. Đây cũng là hình thức tồn tại của hầu hết các ngân hàng tại Việt Nam.3 Chức năng của các Ngân hàng thương mại Nhìn chung, NHTM có ba chức năng chính sau đây: 11 a. Chức năng trung gian tín dụng Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa vốn và người có nhu cầu về vốn.
Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò nhận tiền gửi, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay. Cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thương mại. Chức năng trung gian thanh toán: Ở đây ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Các ngân hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi cả ở trong nước hay ở nước ngoài như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.
Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn. Chức năng này vô hình trung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế. Chức năng tạo tiền Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM.
Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của mình, 12 các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế. Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm.
do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.4 Những họat động kinh doanh của ngân hàng: Chương III của luật tổ chức tín dụng nêu ra các hoạt động chủ yếu của các tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là NHTM, bao gồm: Hoạt động huy động vốn; Hoạt động tín dụng; Hoạt động dịch vụ thanh toán; Hoạt động ngân quỹ. Các hoạt động khác: Góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, bất động sản, kinh doanh dịch vụ và bảo hiểm… Huy động vốn: Cơ cấu vốn của NHTM: - Vốn tự có (vốn chủ sở hữu): là vốn riêng của 1 NHTM, là số vốn ban đầu và được gia tăng không ngừng cùng với quá trình phát triển của NHTM. 13 - Đặc điểm của vốn tự có: + Chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn (từ 5% - 10%) + Có tính ổn định cao và luôn được bổ sung trong quá trình tồn tại và phát triển của NHTM. + Quyết định quy mô hoạt động NHTM và là nhân tố xác định tỷ lệ an toàn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Các nghiệp vụ huy động vốn của NHTM - Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi: Là hình thức huy động vốn cổ điển và mang tính đặc thù riêng có của NHTM. Do vậy, đây cũng là khác biệt giữa ngân hàng với các tổ chức tín dụng phi ngân hàng. - Huy động vốn qua phát hành giấy tờ có giá: Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ 1 khoản tiền trong 1 thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa tổ chức tín dụng và người mua. - Huy động vốn ngắn hạn: Để huy động vốn ngắn hạn, các tổ chức tín dụng phát hành giấy tờ có giá ngắn hạn (dưới 12 tháng) như: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, tín phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác.
- Huy động vốn trung và dài hạn: Muốn huy động vốn trung và dài hạn các NHTM có thể phát hành kỳ phiếu, trái phiếu và cổ phiếu. - Huy động vốn từ các tổ chức tín dụng khác và từ NHNN: Nghiệp vụ huy động vốn mang lại nguồn vốn cho NH thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Không có nghiệp vụ huy động vốn, NHTM sẽ không có đủ vốn tài trợ cho 14 hoạt động kinh doanh của mình. Mặt khác, thông qua nghiệp vụ huy động vốn, NHTM có thể đo lường được sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng.
Hoạt động tín dụng: Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các ngân hàng thương mại có thể dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân bao gồm: - Cho vay (Loans): Là tín dụng nghiệp vụ của ngân hàng thương mại. Trong đó ngân hàng thương mại sẽ cho người đi vay, vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Khi đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi. Ngân hàng kiểm soát được người đi vay, kiểm soát được quá trình sử dụng vốn.
Người đi vay có ý thức trả nợ cho nên bắt buộc họ phải quan tâm đến việc sử dụng làm sao có hiệu quả để hoàn trả nợ vay. Trong cho vay thì mức độ rủi ro rất lớn, không thu hồi được vốn vay hoặc trả không hết hoặc không đúng hạn…do chủ quan hoặc khách quan. Do đó khi cho vay các ngân hàng cần sử dụng các biện pháp bảo đảm vốn vay: thế chấp, cầm cố … - Chiết khấu (Discount): Đây là nghiệp vụ cho vay (gián tiếp) mà ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng. Các đối tượng trong nghiệp vụ này gồm hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy nợ có giá khác.