phần mở đầu và tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm có 3 chƣơng. Cụ thể là : Chƣơng 1: Lý luận chung về phân tích báo cáo tài chính Chƣơng 2 : Thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập Chƣơng 3 : Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động phân tích báo cáo tài chính tại doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập 11 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Khái quát chung về phân tích báo cáo tài chính 1. Khái niệm phân tích báo cáo tài chính Phân tích báo cáo tài chính (BCTC) là một trong những hoạt động quan trọng giúp cho ngƣời sử dụng thông tin có đƣợc sự đánh giá khách quan về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của các doanh nghiệp thông qua các báo cáo tài chính.
Các nhà quản trị trong quá trình quản lý phải thƣờng xuyên có đƣợc các thông tin phân tích báo cáo tài chính, để kiểm soát tốt tình hình tài chính, dự đoán đƣợc kết quả tài chính trong tƣơng lai, phục vụ cho việc ra đƣa ra các quyết định quản trị đúng đắn, kịp thời, trƣớc những biến động của môi trƣờng kinh doanh, đồng thời chuẩn bị tốt các nguồn lực về tài chính cho mục tiêu chiến lƣợc trong dài hạn, muốn vậy nhà quản lý cần thƣờng xuyên tiến hành phân tích báo cáo tài chính công ty. Có rất nhiều khái niệm về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp, tuy khác nhau về hình thức, nhƣng nhìn chung đều thống nhất căn bản về bản chất của hoạt dộng phân tích báo cáo tài chính, có thể thấy rằng : phân tích báo cáo tài chính là nghệ thuật sử dụng các báo cáo tài chính để phân tích, đánh giá tình hình tài chính của công ty thông qua các phƣơng pháp kỹ thuật và công cụ thích hợp để tạo ra thông tin tài chính có giá trị, nhằm dự đoán xu hƣớng phát triển và đƣa ra các quyết định kinh doanh. Trong phân tích báo cáo tài chính, chủ thể sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính sử dụng các phƣơng pháp và công cụ phân tích : phân tích tỷ số, phân tích cơ cấu, phân tích xu hƣớng, phân tích Dupont vừa đánh giá toàn diện, tổng hợp khái quát, vừa xem xét một cách chi tiết thực trạng hoạt động tài chính doanh nghiệp, để nhận biết, phán đoán, dự báo, đƣa ra quyết định tài chính, quyết định tài trợ và đầu tƣ phù hợp. Tuy nhiên chất lƣợng phân tích báo cáo tài chính phụ thuộc vào năng lực, kinh 12 nghiệm và kỹ năng của chủ thể phân tích, với cùng một báo cáo tài chính, cùng một thời điểm phân tích, các nhà phân tích khác nhau sẽ lựa chọn và sử dụng các phƣơng pháp, công cụ phân tích khác nhau và kết quả phân tích cũng rất khác nhau, do đó phân tích báo cáo tài chính còn là một nghệ thuật.
“Báo cáo tài chính là sản phẩm của kế toán tài chính, tổng hợp và phản ánh một cách tổng quát, toàn diện : tình hình tài sản và nguồn vốn của một doanh nghiệp tại một thời điểm; tình hình và kết quả lƣu chuyển tiền tệ của một doanh nghiệp trong một kỳ kế toán nhất định” [1, tr389]. Chức năng của các báo cáo tài chính (BCTC) là cung cấp thông tin tài chính phục vụ cho việc ra quyết định kinh tế của những ngƣời có quan hệ lợi ích với doanh nghiệp, bao gồm các đối tƣợng bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Vai trò của báo cáo tài chính thay đổi theo từng điều kiện kinh tế cụ thể, có thể tiếp cận vai trò của BCTC theo hai cách: (1) yêu cầu pháp lý về việc cung cấp thông tin trên BCTC và (2) Nhu cầu sử dụng thông tin trên BCTC. Trong hai cách tiếp cận trên, cách tiếp cận (1) thƣờng xuất hiện từ ý thức trách nhiệm pháp lý theo quy đinh của các văn bản hƣớng dẫn hiện hành, nên nội dung của BCTC sẽ có xu hƣớng khuôn mẫu, cách tiếp cận ( 2 ) cho thấy vai trò của báo cáo tài chính gắn với việc cung cấp thông tin hữu ích cho nhiều đối tƣợng sử dụng khác nhau để ra quyết định, nói cách khác, tính hữu ích của báo cáo tài chính thể hiện qua lợi ích mang lại từ việc sử dụng thông tin trình bày trên BCTC.
Trong thực tế, lợi ích mang lại từ BCTC đối với các nhóm đối tƣợng sử dụng thông tin có khác nhau chẳng hạn đối với nhà đầu tƣ vốn để phân tích, dự báo, so sánh khi xây dựng danh mục đầu tƣ và ra quyết định đầu tƣ hiệu quả…Những lợi ích của các nhóm đối tƣợng sử dụng thông tin trên BCTC có tác động qua lại, hỗ trợ hoặc mâu thuẫn nhau. Hiện nay chủ thể sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính bao gồm nhiều đối tƣợng sử dụng thông tin khách nhau, không chỉ có bản thân doanh 13 nghiệp mà còn có các tổ chức, cá nhân bên ngoài công ty bao gồm các nhà cung cấp vốn nhƣ ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, nhà cung cấp…và các nhà đầu tƣ nhƣ công ty chứng khoán, nhà đầu tƣ cá nhân…Mỗi chủ thể khác nhau, tùy theo mục đích của mình, sẽ có nhu cầu sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính khác nhau. Do đó xu hƣớng phân tích báo cáo tài chính hiện nay là phân tích báo cáo tài chính theo nhu cầu của đối tƣợng sử dụng thông tin, thông qua các nhu cầu đó mà “ Bức tranh tài chính” của doanh nghiệp đƣợc tái hiện ở các góc độ, khía cạnh khác nhau. Mục tiêu và ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính Mục tiêu cơ bản của phân tích BCTC là nhằm cung cấp những thông tin cần thiết, giúp các đối tƣợng sử dụng thông tin đánh giá khách quan về sức mạnh tài chính của doanh nghiệp, khả năng sinh lời và triển vọng phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Nhƣ đã trình bày ở trên chủ thể sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính là khá đa dạng, do vậy mục tiêu và ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính đối với mỗi chủ thể là khác nhau. Việc xác định rõ chủ thể và mục đích phân tích của mỗi chủ thể phân tích báo cáo tài chính là rất cần thiết để có thể xây dựng các quy trình phân tích BCTC phù hợp cho từng chủ thể phân tích 14 Bảng 1.1 : Mục tiêu và ý nghĩa của phân tích báo cáo tài chính đối với từng chủ thể sử dụng thông tin Các chủ thể phân tích Mục tiêu Ý nghĩa 1. Đối với bản thân - Kinh doanh có lãi và thanh toán đƣợc nợ - Đánh giá đƣợc tình hình tài chính của công ty một cách hệ doanh nghiệp - Dƣới góc độ quản trị tài chính mục tiêu thống, đầy đủ của công ty là làm tối đa hóa giá trị tài sản - Dự báo các kết quả tài chính của chủ sở hữu - Đƣa ra những hoạch định, kế hoạch kịp thời, phù hợp - Kiểm tra, kiểm soát thực hiện các kế hoạch tài chính 2. Đối với nhà đầu tƣ, - Tiềm năng hoạt động của doanh nghiệp - Đánh giá triển vọng phát triển, khả năng sinh lời trên vốn cổ đông ( hiện tại hoặc - Tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc đầu chủ sở hữu cùa doanh nghiệp tiềm năng) tƣ vào cổ phiếu doanh nghiệp - Cân đối giữa lợi ích và rủi ro mang lại từ hoạt động đầu tƣ - Cung cấp thông tin cho quyết định mua, nắm giữ hay bán vốn, quyền sở hữu hoặc lợi ích trong doanh nghiệp 3.
Đối với các chủ nợ : - Xác định khả năng trả nợ của doanh - Đánh giá đƣợc tình hình tài chính hiện tại và tiềm lực phát Ngân hang nghiệp triển của công ty trong tƣơng lai - Tìm kiếm lơi nhuận thông qua tiền lãi từ - Khả năng sinh lời, khả năng thanh toán và những rủi ro của hoạt động cho vay phƣơng án vay - Cung cấp thông tin đƣa ra quyết định cung cấp nguồn vốn, thời hạn cho vay, lãi suất cho vay. 15 Các chủ thể phân tích Mục tiêu Ý nghĩa 4. Đối với khách hàng - Cung cấp nguồn hàng ổn đinh, chất - Đánh giá năng lực tài chính, năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiêp ( hiện lƣợng của doanh nghiệp tại hoặc tiềm năng) - Cung cấp thông tin cho quyết định có mua hàng của doanh nghiệp 5 Đối với nhà cung cấp - Khả năng thanh toán hiện tại và trong - Đánh giá khả năng thanh toán của doanh nghiệp của doanh nghiệp thời gian tới của doanh nghiệp - Cung cấp thông tin cho quyết định cung cấp hàng hóa và - Bán hàng hóa và thu đƣợc tiền từ việc chấp nhận một thời hạn tín dụng thƣơng mại cung cấp hàng hóa 6. Đối với ngƣời lao - Có công ăn việc làm và thu nhập ổn định - Đánh giá triển vọng phát triển bền vững của công ty động - Mức thù lao thỏa đáng - So sánh với các doanh nghiệp khác cùng ngành - Phát triển sự nghiệp cá nhân tại doanh - Cung cấp thông tin cho quyết định gắn bó lâu dài hay tìm nghiệp kiếm một việc làm mới.
Đối với cơ quan quản - Quản lý nhà nƣớc về kinh tế duy trì và - Cung cấp thông tin cho việc hoạch định chính sách kinh tế lý nhà nƣớc : Cơ quan phát triển kinh tế bền vững, đảm bảo an vĩ mô, chống lạm phát, duy trì tăng trƣởng kinh tế thuế, cơ quan thống kê, sinh xã hội - Cung cấp thông tin cho cơ quan thuế thu thuế - đảm bảo các cơ quan chủ quản công bằng xã hội. 16 Qua bảng chúng ta có thể xác định một cách khái quát các mục tiêu và ý nghĩa của từng chủ thể sử dụng thông tin trên báo cáo tài chính, trên cơ sở đó giúp các chủ thể sử dụng thông tin lên kế hoạch phân tích, xây dựng chƣơng trình phân tích, quy mô phân tích, phƣơng pháp phân tích BCTC, phù hợp với nội dung thông tin hữu ích mà chủ thể sử dụng thông tin quan tâm, tránh đƣợc tình trạng phân tích lan man, không rõ trọng tâm, mất nhiều thời gian và tiền bạc. Tuy nhiên việc xác định mục tiêu theo từng chủ thể phân tích báo cáo tài chính chỉ mang tính tƣơng đối, vì bản thân các chủ thể trong quá trình hoạt động, kinh doanh của mình có rất nhiều mục tiêu khác nhau, tùy từng giai đoạn, thời điểm cụ thể mà các mục tiêu đƣợc thay đổi cho phù hợp.