CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT VỀ HOÀN THIỆN CÔNG TÁC NGHIÊN CỨU THỊ TRƯỜNG KHỐI KHÁCH HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU VIỆT NAM 1.1 Khái niệm chung 1.1 Thị trường Thị trường là nơi chuyển giao quyền sở hữu sản phẩm, dịch vụ hoặc tiền tệ, nhằm thỏa mãn nhu cầu của hai bên cung và cầu về một loại sản phẩm nhất định theo các thông lệ hiện hành, từ đó xác định rõ số lượng và giá cả cần thiết của sản phẩm, dịch vụ (Đinh Tiến Minh, 2014).2 Khách hàng Khách hàng là những cá nhân hay tổ chức mà doanh nghiệp đang nổ lực Marketing hướng tới. Họ là người ra quyết định mua sắm. Khách hàng là đối tượng thửa hưởng những đặc tính chất lượng của sản phẩm – dịch vụ (Đinh Tiến Minh,2014). => Khách hàng chính là tài sản quan trọng nhất của một doanh nghiệp mặc dù không được ghi chép lại trong sổ sách của công ty 1.3 Thị trường khách hàng Thị trường khách hàng Là thị trường sản phẩm trong đó giá cả không làm cho cung bằng cầu.
Trong thị trường này, các doanh nghiệp quy định và công bố giá sản phẩm của mình, chứ không áp dụng hình thức đấu giá hoặc hình thức tổ chức nào đó để làm cân bằng thị trường. Người mua và người bán không trao đổi một cách ngẫu nhiên, mà đã tạo lập được mối quan hệ mua bán chắc chắn (Đinh Tiến Minh, 2014).2 Khách hàng doanh nghiệp Khách hàng ngoài doanh nghiệp là những đối tượng nằm bên ngoài doanh nghiệp có nhu cầu mua sắm hàng hóa của doanh nghiệp tổ chức sản xuất. Họ là những người mà bạn có thể giao dịch trực tiếp hay qua điện thoại. Bao gồm: Cá nhân.
Doanh nghiệp hoặc người làm kinh doanh. Cơ quan nhà nước, tổ chức tình nguyện.1 Một số đặc điểm của khách hàng doanh nghiệp Các loại hình doanh nghiệp tại Việt Nam rất đa dạng và phong phú nên với những loại hình sẽ có những đặc điểm khác nhau. Bên cạnh những đặc điểm riêng nổi bật thì chúng đều mang lại những đặc điểm chung cho doanh nghiệp như: - Doanh nghiệp có tính hợp pháp. Tính hợp pháp ở đây thể hiện thông qua việc Doanh nghiệp muốn thành lập công ty phải nộp hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền để đăng ký và nhận được giấy phép đăng ký thành lập.
Khi nhận được sự giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được nhà nước công nhận sự tồn tại và trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm cho các hoạt động bằng chính tài sản riêng của mình. - Doanh nghiệp khi hoạt động đều có hoạt động kinh doanh phần lớn đều hướng đến lợi nhuận hoặc thực hiện cung ứng dịch vụ thường xuyên, lâu dài. 4 Ví dụ đa số các doanh nghiệp khi thành lập đều hướng đến mục đích sinh lời tạo lợi nhuận qua việc mua bán, sản xuất, kinh doanh hàng hóa hoặc cung ứng để phục vụ người tiêu dùng. Cũng có một số doanh nghiệp xã hội hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà hướng đến yếu tố vì cộng đồng, vì xã hội và môi trường như các doanh nghiệp về điện, nước, vệ sinh,….
- Doanh nghiệp hoạt động có tính tổ chức. Tính tổ chức thể hiện qua cơ bộ máy tổ chức điều hành, cơ cấu nhân sự rõ ràng. Đồng thời doanh nghiệp thành lập luôn có trụ sở giao dịch, đăng ký theo quy định và có tài sản riêng để quản lý kèm theo tư cách pháp nhân trừ loại hình doanh nghiệp tư nhân.2 Phân loại doanh nghiệp Hiện nay pháp luật cho phép các cá nhân, tổ chức thành lập rất nhiều loại hình công ty doanh nghiệp khác nhau phù hợp với nhu cầu, mục đích của người thành lập. Bài viết dưới đây sẽ thực hiện phân loại doanh nghiệp dựa trên một số tiêu chí cơ bản nhất định.
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế, có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Việc thực hiện thành lập doanh nghiệp cũng như vận hành, giải thể và các công việc liên quan đến doanh nghiệp phải được dựa trên pháp luật. Vậy làm thế nào để nhận biết các loại doanh nghiệp dựa trên các tiêu chí cụ thể? Căn cứ vào hình thức pháp lý Nếu dựa vào hình thức pháp lý, Luật doanh nghiệp 2014 quy định có các loại hình công ty, doanh nghiệp sau đây: Công ty trách nhiệm hữu hạn bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, là công ty mà các thành viên trong công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty. Công ty cổ phần là công ty mà vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
Cá nhân hay tổ chức sở hữu cổ phần của doanh nghiệp được gọi là cổ đông và chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty hợp danh là công ty trong đó có ít nhất hai thành viên là chủ sở hữu của công ty, cùng kinh doanh dưới một cái tên chung. Thành viên hợp danh phải là cá nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty, thường là các cá nhân có sự thân cận về mặt nhân thân. Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ. Căn cứ vào chế độ trách nhiệm - Chế độ trách nhiệm hữu hạn Chế độ trách nhiệm hữu hạn là việc chủ sở hữu hoặc các thành viên thực hiện góp vốn vào công ty chỉ phải chịu trách nhiệm với công ty về các khoản nợ và nhận lợi ích tương ứng với phần mình góp vào công ty mà không phải lấy tài sản cá nhân ra để chịu trách nhiệm 5 Dựa vào chế độ chịu trách nhiệm này để phân loại doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp 2014 quy định có công ty cổ phần và công ty hợp danh sẽ có trách nhiệm hữu hạn, tức là cổ đông/thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty - Chế độ chịu trách nhiệm vô hạn Chế độ chịu trách nhiệm vô hạn là việc chủ sở hữu/thành viên công ty phải chịu trách nhiệm bằng mọi tài sản của mình đối với việc thực hiện nghĩa vụ của công ty khi công ty không có đủ tài sản để thực hiện nghĩa vụ tài chính của nó. Dựa vào chế độ chịu trách nhiệm này, Luật doanh nghiệp 2014 quy định doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh có trách nhiệm vô hạn, tức là nếu tài sản của doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh không đủ để thực hiện các nghĩa vụ về tài chính của doanh nghiệp khi các doanh nghiệp này phải áp dụng thủ tục thanh lý trong thủ tục phá sản, chủ sở hữu doanh nghiệp và các thành viên hợp danh phải sử dụng cả tài sản riêng không đầu tư vào doanh nghiệp để thanh toán cho các khoản nợ của doanh nghiệp. Căn cứ vào tư cách pháp nhân Một tổ chức có tư cách pháp nhân là tổ chức có tài sản riêng độc lập và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản ấy đối với mọi nghĩa vụ phát sinh của mình.
Ngoài ra nó tự nhân danh mình tham gia vào các quan hệ do pháp luật quy định Căn cứ vào định nghĩa trên, Luật doanh nghiệp quy định rằng chỉ có doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân do tài sản của doanh nghiệp tư nhân không được tách riêng ra với tài sản của chủ doanh nghiệp tư nhân. Các công ty khác như công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh đều có tư cách pháp nhân.3 Lợi ích của doanh nghiệp Mục đích kinh doanh được thỏa mãn: Có rất nhiều hoạt động kinh doanh mà cá nhân không thể tiến hành mà phải là một tổ chức; đặc biệt như các ngành nghề như luật sư, môi giới bất động sản,dịch vụ hàng không,… cần có điều kiện dinh doanh. Mặt khác, việc không đăng ký thành lập doanh nghiệp khi kinh doanh sẽ gây ra nhiều vấn đề lớn đến kế hoạch kinh doanh dài hạn hoặc cần nhiều yêu cầu, thủ tục liên quan. Thành lập công ty cũng giúp tạo ra một thương hiệu của riêng của chủ doanh nghiệp.
Khi các sản phẩm, dịch vụ kinh doanh của doanh nghiệp trở nên phổ biến trong thị trường rất cần một thương hiệu để người tiêu dùng có thể phân biệt được với các sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp khác. Thành lập công ty chính là bước đầu của việc gây dựng nên thương hiệu. Chủ sở hữu doanh nghiệp có thể từng bước tạo dựng ấn tượng trong nhận thức của người tiêu dùng và tiến tới mở rộng quy mô kinh doanh, tăng lợi nhuận. Tăng doanh thu, lợi nhuận: Việc thành lập doanh nghiệp tạo khả năng huy động vốn khi doanh nghiệp đi vào hoạt động; trở thành một phần của thị trường, do đó tạo được nguồn lợi nhuận lớn hơn các loại hình khác.
Theo quy định của luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13, Trường hợp các cá nhân cùng muốn kinh doanh có thể tiến hành góp vốn hoặc góp vốn cùng 6 các công ty khác để thành lập một doanh nghiệp, hay có thể góp vốn vào một công ty đang tồn tại. Cơ quan nhà nước sẽ chứng nhận viện góp vồn vào Doanh nghiệp. Vì vậy cá nhân có thể yên tâm được đảm bảo các quyền và nghĩa vụ khi thành lập doanh nghiệp. Lợi ích pháp lý: Công ty là một loại hình kinh doanh được pháp luật cho phép, đồng thời có những hành lang pháp lý giúp cho hoạt động của doanh nghiệp rõ ràng, minh bạch và tin cậy hơn.
Theo quy định của pháp luật, doanh nghiệp là một pháp nhân với cơ cấu tổ chức chặt chẽ, được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam, đồng thời, doanh nghiệp cũng tự nhân danh chính mình để tham gia vào các quan hệ pháp luật. Pháp luật cũng quy định rõ chi tiết quyền và nghĩa vụ của các thành viên trong doanh nghiệp. Việc đó giúp cho các giao dịch trở nên hợp pháp, tránh được các tranh chấp không mong muốn.