CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Tổng quan các nghiên cứu về toàn cầu hóa Toàn cầu hóa có thể hiểu là một hiện tượng gắn liền với sự gia tăng về số lượng cũng như cường độ của các cơ chế, tiến trình và hoạt động nhằm thúc đẩy gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên thế giới cũng như sự hội nhập kinh tế và chính trị ở cấp độ toàn cầu (Lê Hồng Hiệp 2013). Theo đó, toàn cầu hóa làm lu mờ các đường biên giới quốc gia, thu hẹp các khoảng không gian trên các khía cạnh đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của thế giới.
Toàn cầu hóa nền kinh tế ảnh hưởng mạnh mẽ đến xu hướng phát triển trong từng lĩnh vực của nền kinh tế quốc gia, sự sống còn và thành công của các doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ trên thị trường toàn cầu đòi hỏi giá trị gia tăng của doanh nghiệp phải thật lớn. Trong thời đại nền kinh tế toàn cầu, nhiều thị trường ngày càng trở nên bị quốc tế hóa và phải cạnh tranh khốc liệt. Tiến bộ công nghệ cho phép doanh nghiệp có thể mua, bán và hợp tác trên quy mô toàn cầu hoặc thậm chí nhỏ hơn và các doanh nghiệp tại địa phương, theo đó, buộc phải biết mình đang đứng ở đâu để hành động và tồn tại trong môi trường kinh doanh mới đầy thách thức này. Toàn cầu hóa và sự tác động của nó đối với từng quốc gia cũng như hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đã được đề cập rất nhiều qua quá trình thực tiễn kinh doanh.
Thuật ngữ toàn cầu hoá xuất hiện vào những năm 1950, với sự phổ biến các phương tiện vận tải có động cơ và sự gia tăng các trao đổi thương mại; và được chínhthức sử dụng rộng rãi từ những năm 1990 của thế kỷ XX. Toàn cầu hóa và quốc tế hóa là những thuật ngữ đã trở nên phổ biến trong nhiều ngành kinh tế (Adler & Gundersen 2008). Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế - OECD, toàn cầu hóa là một quá trình gia tăng sự phụ thuộc của thị trường và nền kinh tế lẫn nhau giữa các quốc gia, nó được nảy sinh bởi quá trình trao đổi hàng hóa, vốn, dịch vụ, chuyển giao công nghệ và bí quyết. Theo Friedman (2006), toàn cầu hoá là sự hội nhập toàn cầu của nền kinh tế 7 thông qua các dòng chảy thương mại và đầu tư, cũng như việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh quốc tế.
Toàn cầu hóa chính là sự hội nhập ngày càng tăng của nền kinh tế toàn cầu mà chủ yếu là kết quả của sự tiến bộ khoa học công nghệ trong ngành viễn thông, ngành vận tải, là kết quả của các khoản đầu tư vốn và dòng chảy vô tận của các ý tưởng (Jankalová 2012, tr. Tóm lại, toàn cầu hóa là xu hướng mà các quỹ đầu tư và các doanh nghiệp trong nước sẽ vượt qua các thị trường bên trong quốc gia để đến với các thị trường khác trên toàn cầu bởi toàn cầu hóa cung cấp cho tổ chức một vị thế cạnh tranh tốt hơn với chi phí vận hành thấp hơn để đạt được số lượng lớn các sản phẩm, dịch vụ và người tiêu dùng (Incekara & Mesut 2012, tr. Tổng quan các nghiên cứu về môi trường kinh doanh Từ lâu, môi trường kinh doanh đã được công nhận là một trong những yếu tố ngẫu nhiên trong các nghiên cứu về quản trị chiến lược (Venkatraman & Prescott 1990, tr.1-23; Miller & Friesen 1983, tr.221-235; Hambrick & Lei 1985, tr. Nhiều lý thuyết đã công nhận rằng môi trường kinh doanh càng năng động thì càng tạo động lực cho đổi mới (Miller & Friesen 1982, tr.1-25; Wang & Chen 2010, tr.141-154; Baron & Tang 2011, tr.49-60; Lee & Tien 2011, tr.
Theo các nghiên cứu cho thấy, trong một môi trường kinh doanh năng động, thị hiếu hoặc sở thích của khách hàng sẽ thay đổi một cách nhanh chóng, các công ty cần phải đáp ứng bằng cách cung cấp các sản phẩm vượt trội hơn (Miller & Friesen 1983, tr.221-235; Levinthal & March 1993, tr. 95-112) và phù hợp với nhu cầu thị trường (Tripsas 2008, tr. Sự kết hợp những thay đổi về mặt công nghệ nhanh chóng và phổ biến trong môi trường năng động, không chỉ thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào khả năng sáng tạo của họ (bao gồm cả R&D), mà còn tăng cường vị thế cạnh tranh của họ trên thị trường (Zahra & Bogner 1999, tr. Asika (2001) cho rằng phân tích môi trường kinh doanh là việc kiểm tra và đánh giá các cơ hội và nguy cơ do môi trường cung cấp cũng như những điểm mạnh và điểm yếu tiềm ẩn mà doanh nghiệp sở hữu.
Tuy nhiên, Carrasco (2007) trích trong Oginni (2012) cho rằng cơ hội và thách thức gắn liền với môi trường bên ngoài của một doanh nghiệp trong khi điểm mạnh và điểm yếu gắn liền với môi 8 trường nội bộ (bên trong) của doanh nghiệp. Pulendran & cộng sự (2000) chỉ ra rằng một đặc điểm quan trọng của môi trường bên ngoài tổ chức kinh doanh là cạnh tranh. Điều này được hỗ trợ bởi quan điểm của Asika (2001) rằng các tổ chức công nhận sự hiện diện và cường độ cạnh tranh có khuynh hướng tìm kiếm thông tin về khách hàng nhằm mục đích đánh giá và sử dụng các thông tin đó để tạo thuận lợi cho họ trong cạnh tranh. Các tổ chức kinh doanh để tìm kiếm khách hàng, để hiểu những cách tốt hơn để đáp ứng nhu cầu, mong muốn của họ, và do đó tăng cường hiệu suất của tổ chức (Azhar 2008).
Adeoye (2012) cho biết những thay đổi về môi trường liên tục gây áp lực mới đối với hoạt động của công ty và đáp ứng những thay đổi này, một số công ty trong ngành may mặc đã xây dựng và thực hiện các chiến lược tổ chức lại và cải cách cách thức sản xuất và phân phối sản phẩm cho người tiêu dùng cuối cùng, do đó, tác động của các yếu tố môi trường đối với hoạt động kinh doanh theo hướng mục tiêu lợi nhuận được tìm thấy có mối quan hệ ngày càng chặt chẽ hơn, đòi hỏi một chiến lược kinh doanh phức tạp hơn.545-555) đã tổng quan các nghiên cứu về môi trường kinh doanh, thể hiện ở bảng sau: Tác giả Đóng góp Xác định khách hàng, đối thủ cạnh tranh, công nghệ và các (Duncan 1972, nhà quản lý chính là các nhân tố quan trọng hình thành môi tr.313-327) trường kinh doanh Đã phát triển một khuôn khổ lý thuyết về các khía cạnh của (Howard 1979) môi trường sao cho phù hợp với cả hai quan điểm dựa vào tài nguyên và sinh thái dân số của các tổ chức Đề xuất đầu tiên một khuôn khổ bốn chiều, thể hiện đặc (Mintzberg 1979) trưng tổng thể của môi trường kinh doanh: đáng chú ý là 9 Tác giả Đóng góp mức độ của họ về sự đa dạng, phức tạp, năng động, và tính đe dọa. Đề xuất một mô hình khái niệm liên kết chiến lược cạnh (Van Dierdonck & tranh và thiết kế hệ thống quản lý sản xuất, phát hiện môi Miller 1980, tr.37- trường dự phòng quan trọng, và gợi ý về tầm quan trọng của 46) việc xem xét sự không chắc chắn và tính phức tạp của môi trường như bối cảnh cho chiến lược hoạt động (Dess & Beard 1984, Đề xuất và thực nghiệm thử nghiệm ba đặc điểm quan trọng tr.52-73) của môi trường: tính đe dọa, năng động và phức tạp Chỉ ra rằng sự không chắc chắn về môi trường là một vấn đề quan trọng và đề xuất bốn khía cạnh của sự không chắc chắn (Wernerfelt & về môi trường: không chắc chắn về nhu cầu, không chắc Karani 1987, tr.187- chắn về nguồn cung ứng, không chắc chắn về cạnh tranh, và 194) bao gồm cả các trường hợp không thể đoán trước. Sự bất ổn ngày càng tăng làm cho môi trường kinh doanh khó lường hơn và năng động. Thiết lập tầm quan trọng của môi trường kinh doanh như (Swamidass & một yếu tố nhân quả quan trọng trong chiến lược hoạt động Neweli 1987, tr.509- - kết nối hiệu quả kinh doanh.
Chứng minh rằng môi trường 524) năng động sẽ là động lực để các doanh nghiệp tập trung hơn vào sản xuất một cách linh hoạt. Cho rằng nhà cung cấp, khách hàng, và phạm vi địa lý là (Kotha & Orne 1989, những yếu tố quan trọng để hiểu được các điều kiện của môi tr. Tác động đáng kể của sự năng động và mức độ không thuận (Ward/Duray…1995, lợi từ môi trường với việc áp dụng các chiến lược cạnh tranh tr.99-115) và cuối cùng là hiệu quả hoạt động kinh doanh 10 Tác giả Đóng góp Điều kiện trường kinh doanh thay đổi, chuỗi công ty và các (Fine 1998) ưu tiên cạnh tranh phải được điều chỉnh cho phù hợp, nếu không hiệu quả kinh doanh có thể bị ảnh hưởng xấu. (Smith & Reece Chiến lược gắn với môi trường để đạt được hiệu quả cao.145-161) (Tan/Ghosh…1999, Chứng minh rằng môi trường cạnh tranh có tác động trực tr.1034-1052) tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Chứng minh rằng việc xem xét các chiến lược cạnh tranh và chiến lược sản xuất của một công ty phải ở trong bối cảnh (Ward & Duray môi trường năng động. Một sự không phù hợp giữa môi 2000, tr.123-138) trường kinh doanh và chiến lược cạnh tranh của công ty và chiến lược sản xuất sẽ dẫn đến hiệu quả kém hơn. (Randal & Morgan Môi trường kinh doanh có tác động đáng kể về mặt thống kê 2003, tr.430-443) về lựa chọn chuỗi cung ứng của công ty và hiệu quả tổng thể. Nguồn: Chi (2009) Norzalita & Norjaya (2010, tr.154-164) đã khảo sát vai trò của môi trường bên ngoài trong mối quan hệ định hướng thị trường của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành thực phẩm nông sản ở Malaysia và nhận thấy rằng sự bất ổn về công nghệ và cường độ cạnh tranh không làm giảm mối quan hệ giữa định hướng thị trường và hiệu quả kinh doanh.
Như vậy, đối với doanh nghiệp hoặc tổ chức, khi tham gia vào môi trường kinh doanh toàn cầu, việc thường xuyên phải đối mặt với sự không chắc chắn, gián đoạn, hỗn loạn và nghịch lý là điều không thể tránh khỏi. Bởi, không phải mọi ý định của doanh nghiệp đều là để làm thỏa mãn sự hài lòng của khách hàng, không phải mọi sự hài lòng đều tăng tỷ lệ khách hàng mới, và cũng như không phải tăng số lượng khách hàng quyết định sự tồn tại hay thành công của doanh nghiệp trong phạm vi cạnh tranh mạnh mẽ và đặc biệt mạnh mẽ hơn trên thị trường toàn cầu.