phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có ba chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng công tác kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế Thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện kiểm tra thuế thu nhập doanh nghiệp tại Chi cục Thuế thành phố Sầm Sơn tỉnh Thanh Hóa. 4 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KIỂM TRA THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1.
Những vấn đề chung về thuế và thuế Thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế 1. Khái niệm về thuế Để duy trì sự tồn tại đồng thời với việc thực hiện các chức năng của mình nhà nƣớc cần có nguồn vật chất để thực hiện các chi tiêu có tính chất xã hội. Do đó nhà nƣớc phải dùng quyền lực chính trị vốn có để tập trung một phần nguồn lực của xã hội bằng cách huy động dƣới nhiều hình thức.
Trong đó có hình thức đóng góp bắt buộc đƣợc gọi là Thuế. Cho đến nay vẫn chƣa có thống nhất tuyệt đối về khái niệm thuế. Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau. Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả ngƣời Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “Thuế là một biện pháp của Chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận đƣợc của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu) trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản”.[8] Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đƣa ra một định nghĩa tƣơng đối cổ điển về thuế: “ Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền có tính chất xác định không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nƣớc thông qua con đƣờng quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà Nƣớc.[18] Nhƣ vậy có rất nhiều định nghĩa về Thuế mỗi định nghĩa đề cập đến một khía cạnh của Thuế nhƣng ta có thể tổng hợp những đặc điểm chung và hợp lý từ những định nghĩa đó: 5 Về góc độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt theo đó nhà nƣớc sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tƣ sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của nhà nƣớc.
Về góc độ phân phối thu nhập, thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quý tiền tệ tập trung của nhà nƣớc để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nƣớc.” Về góc độ ngƣời nộp thuế, thuế là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nƣớc theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nƣớc. Như vậy, từ các quan điểm trên thuế được khái niệm như sau: thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp luật quy định, không mang tính chất hoàn trả trực tiếp nhằm sủ dụng cho mục đích công cộng. Đặc điểm của thuế Thứ nhất thuế là khoản thu nộp bắt buộc vào ngân sách nhà nƣớc. Tính bắt buộc của thuế thể hiện ở chỗ đối với ngƣời nộp thuế thì buộc phải chuyển giao một phần tài sản của mình để thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với nhà nƣớc nếu không thực hiện thì sẽ bị áp dụng những biện pháp cƣỡng chế cần thiết.
Còn đối với cơ quan thu thuế thì tính bắt buộc thể hiện ở chỗ cơ quan thu thuế buộc phải thực hiện việc thu thuế đối với mọi tổ chức cá nhân có nghĩa vụ là nhƣ nhau mà không đƣợc có sự ƣu tiên với bất kì ngƣời nộp thuế nào Thứ hai thuế gắn với quyền lực nhà nƣớc. Để thuế phát huy vai trò của mình đối với xã hội thì nhà nƣớc đã pháp luật hóa thuế thành hệ thống pháp luật từ đó buộc mọi cá nhân phải tuân thủ. Chỉ gắn với yếu tổ quyền lực thì thuế mới đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ tạo nguồn tài chính cho ngân sách nhà nƣớc. 6 Thứ ba thuế không mang tính đối giá không hoàn trả trực tiếp cho ngƣời nộp thuế.[13] Không nhƣ phí và lệ phí chỉ đƣợc nộp khi đối tƣợng nộp đã nhận đƣợc một lợi ích ngay từ phía nhà nƣớc thì thuế là khoản bắt buộc mà ngƣời nộp thuế phải nộp cho nhà nƣớc khi có những điều kiện nhất định.
Khi nộp thuế ngƣời nộp sẽ không đƣợc nhận lại một số tiền tƣơng đƣơng với khoản thuế đã nộp mà chỉ nhận đƣợc những lợi ích không thể xác định dƣới dạng vật chất nhƣ: yên bình xã hội sự phát triển kinh tế… đó là tính không hoàn trả trực tiếp của thuế. Số tiền thuế phải nộp không phụ thuộc vào mức độ hƣởng lợi ích của ngƣời nộp thuế. Vai trò của thuế Thứ nhất thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nƣớc. Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu từ nội bộ nền kinh tế quốc dân.
Tất cả các nhu cầu chi tiêu của Nhà nƣớc đều đƣợc đáp ứng qua các nguồn thu từ thuế phí và các hình thức thu khác nhƣ: vay mƣợn viện trợ nƣớc ngoài bán tài nguyên quốc gia thu khác. Song thực tế các hình thức thu ngoài thuế đó có rất nhiều hạn chế bị ràng buộc bởi nhiều điều kiện. Do đó thuế đƣợc coi là khoản thu quan trọng nhất vì khoản thu này mang tính chất ổn định và khi nền kinh tế càng phát triển thì khoản thu này càng tăng. Thứ hai, thuế một công cụ góp phần điều chỉnh các mục tiêu kinh tế vĩ mô của Nhà nƣớc.
Chính sách thuế đƣợc đặt ra không chỉ nhằm mang lại số thu đơn thuần cho ngân sách mà yêu cầu cao hơn là qua thu góp phần thực hiện chức năng việc kiểm kê kiểm soát quản lý hƣớng dẫn và khuyến khích phát triển sản xuất mở rộng lƣu thông đối với tất cả các thành phần kinh tế theo hƣớng phát triển của kế hoạch nhà nƣớc góp phần tích cực vào việc điều chỉnh các mặt mất cân đối lớn trong nền kinh tế quốc dân. 7 Thứ ba, thuế kích thích sự tăng trƣởng kinh tế tạo công ăn việc làm. Nhà nƣớc thực hiện định hƣớng phát triển sản xuất. Chính sách thuế có thể góp phần tạo ra sự phát triển cân đối hài hoà giữa các ngành các khu vực các thành phần kinh tế làm giảm bớt chi phí xã hội và thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trƣờng xảy ra các chu kỳ kinh doanh đó là chu kỳ dao động lên xuống về mức độ thất nghiệp và tỷ lệ lạm phát sự ổn định nền kinh tế với tình trạng có đầy đủ công ăn việc làm lạm phát ở mức thấp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trƣởng bền vững là hƣớng phấn đấu nỗ lực của mọi chính phủ nhằm san bằng chu kỳ kinh doanh đƣa giá cả về mức ổn định. Thứ tư, thuế thực hiện vai trò tái phân phối các nguồn tài chính góp phần đảm bảo công bằng xã hội. Kinh tế thị trƣờng làm ra tăng sự phân hoá giàu nghèo sự phân hoá này có những khi bất hợp lý và làm giảm tính hiệu quả kinh tế-xã hội. Do vậy cần phải có những biện pháp phân phối lại của cải xã hội nhằm hạn chế sự phân hoá này làm lành mạnh xã hội.
Nhà nƣớc dùng thuế để điều tiết phần chênh lệch giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo thông qua việc trợ cấp hoặc cung cấp hàng hoá công cộng. Thông qua thuế thu nhập Nhà nƣớc thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô trong lĩnh vực tiền lƣơng và thu nhập hạn chế sự phân hoá giàu nghèo và tiến tới công bằng xã hội. Một khía cạnh khác của chính sách thuế nhằm điều chỉnh thu nhập là các khoản thuế đánh vào tiêu dùng: Thuế Tiêu thụ đặc biệt thuế Giá trị gia tăng. Với những hàng hóa dịch vụ thiết yếu việc giảm thuế sẽ có lợi cho ngƣời nghèo hơn và sự chênh lệch về thu nhập cũng đƣợc giảm bớt.
Trái lại những mặt hàng xa xỉ cao cấp việc tăng thuế sẽ góp phần phân phối lại một bộ phận thu nhập của ngƣời giàu trong xã hội. Thứ năm,thuế là công cụ kiềm chế lạm phát. Nguyên nhân của lạm phát có thể do cung cầu làm cho giá cả hàng hoá tăng lên hoặc do chi phí đầu vào tăng. Thuế đƣợc sử dụng để điều chỉnh lạm phát ổn định giá cả thị trƣờng.
Nếu cung nhỏ hơn cầu thì nhà nƣớc dùng thuế 8 để điều chỉnh bằng cách giảm thuế đối với các yếu tố sản xuất giảm thuế thu nhập để kích thích đầu tƣ sản xuất ra nhiều khối lƣợng sản phẩm nhiều hơn. Đồng thời tăng thuế đối với hàng hoá tiêu dùng để giảm bớt cầu. Nếu lạm phát do chi phí tăng gia tăng thất nghiệp sự trì trệ của tốc độ phát triển kinh tế giá cả đầu vào tăng nhà nƣớc dùng thuế hạn chế tăng chi phí bằng cách cắt giảm thuế đánh vào chi phí kích thích tăng năng suất lao động. Thứ sáu,thuế góp phần bảo hộ sản xuất trong nƣớc và tạo điều kiện hoà nhập nền kinh tế thế giới.[13] Bảo hộ hợp lý nền sản xuất trong nƣớc tránh khỏi sự cạnh tranh khốc kiệt từ bên ngoài đƣợc coi là hết sức cần thiết đối với các nƣớc.
Điều này đƣợc thể hiện rõ nét thông qua thuế xuất nhập khẩu. Để kích thích sản xuất trong nƣớc phát triển kích thích sản xuất hàng hoá xuất khẩu nhà nƣớc đánh thuế rất thấp hoặc không đánh thuế vào hàng xuất khẩu. Khuyến khích xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô. Đánh thuế nhập khẩu thấp đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nƣớc chƣa sản xuất đƣợc và đánh thuế nhập khẩu cao đối với hàng hoá máy móc thiết bị trong nƣớc đã sản xuất đƣợc hoặc tiêu dùng xa xỉ.
Hiện nay xu hƣớng hội nhập kinh tế đang phát triển mạnh mẽ ở trong khu vực và trên thế giới. Sự ƣu đãi các hiệp định về thuế tính thông lệ quốc tế của chính sách thuế có thể làm gia tăng sự hoà nhập kinh tế giữa một số quốc gia với khu vực và cộng đồng quốc tế. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thuế Thu nhập doanh nghiệp 1.