Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.Kiểm soát nội bộ 1.Bản chất kiểm soát nội bộ Trong nền kinh tế hội nhập như hiện nay, với sự phát triển của nhiều ngành công nghệ, kỹ thuật mới làm cho năng suất lao động của con người tăng lên đáng kể, mang lại nhiều cơ hội, đem lại nguồn doanh thu và lợi nhuận lớn cho các công ty và doanh nghiệp, đi đôi với những cơ hội là những rủi ro có thể phát sinh trong quá trình thực hiện các mục tiêu của tổ chức, chính vì vậy nên các nhà quản trị đã bắt đầu chú trọng việc sử dụng hệ thống KSNB vào tổ chức nhằm hạn chế những rủi ro để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Theo Basel (2010), KSNB giúp đảm bảo rằng ban quản lý cấp cao thiết lập và duy trì hệ thống và quy trình KSNB đầy đủ và hiệu quả. Các hệ thống và quy trình cần được thiết kế để đảm bảo trong các lĩnh vực bao gồm báo cáo (về tình hình tài chính và tình hình hoạt động), giám sát việc tuân thủ pháp luật, các quy định và chính sách nội bộ, hiệu quả và hiệu quả của hoạt động và bảo vệ tài sản. Theo COSO (2013), KSNB được định nghĩa như sau: "Kiểm soát nội bộ là một tiến trình được thiết lập và vận hành bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các nhân sự khác, được thiết kế để đem lại một sự bảo đảm hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo, và sự tuân thủ với các luật và quy định liên quan".
Theo Thông tư số 13/2018/TT-NHNN (2018) quy định về hệ thống e 8 KSNB của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hệ thống KSNB là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp với quy định tại Luật các tổ chức tín dụng, Thông tư này và các quy định của pháp luật có liên quan và được tổ chức thực hiện nhằm kiểm soát, phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra. Hệ thống KSNB thực hiện giám sát của quản lý cấp cao, kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro, đánh giá nội bộ về mức đủ vốn và kiểm toán nội bộ. Có thể thấy được rằng do yêu cầu và góc độ nhìn nhận của mỗi tổ chức, lĩnh vực ngành nghề là khác nhau nên có rất nhiều quan điểm về hệ thống KSNB. Theo quan điểm của tác giả thì KSNB là tổng hợp toàn bộ các chính sách, quy trình, quy định do hội động quản trị, ban quản lý đưa ra để hướng dẫn cách thức thực hiện công việc ở mọi cấp trong tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức và đồng thời tuân thủ các quy định của nhà nước và pháp luật.Khuôn mẫu kiểm soát nội bộ Trong quá trình hoạt động của các tổ chức, để đạt được hiệu quả hoạt động thì các tổ chức luôn chú trọng sử dụng các khuôn mẫu KSNB phù hợp với cơ cấu tổ chức, loại hình hoạt động của mình.
Để biết thêm về KSNB chúng ta cùng xem khái quát các khuôn mẫu KSNB như COSO, CoCo và Turnbull, Basel. + Khuôn mẫu kiểm soát nội bộ COSO Theo kiểm soát nội bộ COSO (2013), Khuôn khổ COSO bao gồm 5 thành phần như sau: - Môi trường kiểm soát: bao gồm các yếu tố tạo lập môi trường của cả hệ thống KSNB. e 9 - Đánh giá rủi ro: bao gồm việc nhận diện rủi ro và đánh giá các rủi ro. - Hoạt động kiểm soát: bao gồm các hoạt động kiểm soát cụ thể đối phó với các rủi ro.
- Thông tin và trao đổi thông tin: bao gồm việc tạo lập, cung cấp thông tin và trao đổi thông tin phục vụ cho sự vận hành các thành phần của hệ thống KSNB. - Hoạt động giám sát: bao gồm các hoạt động đánh giá thường xuyên và đánh giá chuyên biệt tính hữu hiệu của hệ thống KSNB. Khuôn khổ COSO hướng đến tạo lập một khuôn khổ để giúp ban quản lý có thể kiểm soát tổ chức một cách tốt hơn đồng thời giúp cho hội đồng quản trị có thêm khả năng để giám sát KSNB của tổ chức. + Khuôn mẫu kiểm soát nội bộ CoCo Theo quan điểm của CoCo, KSNB bao gồm các thành phần của một tổ chức (kể cả các nguồn lực, các hệ thống, các quy trình, văn hóa, cấu trúc tổ chức, các nhiệm vụ) được kết hợp lại với nhau để hỗ trợ các thành viên đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Các nguyên tắc của khuôn khổ CoCo được tổ chức theo các nhóm như sau: Mục đích; Cam kết; Năng lực; Hành động; Giám sát và học hỏi. + Khuôn mẫu kiểm soát nội bộ Turnbull Theo Turnbull, KSNB bao gồm các chính sách, quy trình, nhiệm vụ, những hành vi và các khía cạnh khác của đơn vị, được thiết lập nhằm đạt được cùng lúc: một là, tạo điều kiện cho hoạt động hữu hiệu và hiệu quả bằng cách cho phép nó đáp ứng một cách hợp lý các hoạt động kinh doanh, tài chính, tuân thủ và các rủi ro khác để đạt được mục tiêu của đơn vị. Điều này bao gồm việc bảo vệ tài sản không bị sử dụng không phù hợp hoặc bị mất mát, gian lận; hai là, giúp đảm bảo chất lượng báo cáo nội bộ và bên ngoài; ba e 10 là, giúp đảm bảo việc tuân thủ luật pháp và luật lệ cũng như các chính sách nội bộ đơn vị. Hệ thống KSNB bao gồm các thành phần: Hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, quy trình giám sát liên tục sự hữu hiệu của KSNB (Financial Reporting Council, 2005) + Khuôn mẫu kiểm soát nội bộ Basel: Theo Basel (1998) đã định nghĩa KSNB là một quá trình chịu ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị, các nhà quản lý cao cấp và tất cả nhân viên các cấp của đơn vị.
Kiểm soát nội bộ không chỉ là một thủ tục hay chính sách được thực hiện tại một thời điểm cụ thể mà còn là một hoạt động liên tục ở mọi cấp trong ngân hàng. Mục tiêu chính của quá trình KSNB nhằm có thể đạt được các loại mục tiêu: hiệu quả, báo cáo và tuân thủ. Các bộ phận cấu thành KSNB - Giám sát điều hành và văn hóa kiểm soát - Nhận biết và đánh giá rủi ro - Hoạt động kiểm soát và sự phân công, phân nhiệm - Thông tin và truyền thông - Giám sát và sửa chữa những sai sót - Đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ thông qua cơ quan thanh tra ngân hàng 1. Kiểm soát nội bộ các hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại 1.Đặc điểm hoạt động tín dụng trong ngân hàng thương mại có ảnh hưởng đến kiểm soát nội bộ Đặc điểm của hoạt động tín dụng là cho vay, khi cho vay thì phải xem xét đến hồ sơ cho vay, tài sản thế chấp, quy trình cấp tín dụng.
- Hồ sơ cho vay: e 11 Khi thực hiện hoạt động cho vay thì yêu cầu đầu tiên là hồ sơ của khách hàng phải đảm bảo đầy đủ và phù hợp theo quy định của ngân hàng, bao gồm hồ sơ pháp lý, hồ sơ tài sản bảo đảm, hồ sơ tín dụng và hồ sơ giải ngân. Việc thu thập đầy đủ hồ sơ, chứng từ của khách hàng là hết sức quan trọng vì nó giúp cho người cấp tín dụng có cơ sở xác định đúng khách hàng cần vay, căn cứ để đánh giá khả năng trả nợ và thiện chí trả nợ của họ, xác định đúng thông tin khách hàng, về nhân thân, gia đình, nơi ở, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và gia đình, học vấn, v.v nên việc yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ hồ sơ theo quy định của ngân hàng là bắt buộc phải thực hiện. Sau khi nhận được hồ sơ vay của khách hàng thì nhân viên tín dụng phải so sánh đối chiếu các thông tin trên các hồ sơ, giấy tờ của khách hàng để xem thử có khớp với nhau hay không, việc này giúp cho ngân hàng có thể giảm rủi ro do khách hàng làm giả hồ sơ, chứng từ để đi vay ngân hàng và đồng thời đánh giá được khả năng tài chính, nguồn trả nợ của khách hàng có đảm bảo hay không, khách hàng có sử dụng vốn vay của ngân hàng có đúng mục đích hay không, việc đánh giá trên nhiều mặt khác nhau giúp cho ngân hàng có thể nhìn thấy được bao quát về khách hàng để có thể nhận biết rủi ro và ngăn ngừa các rủi ro có thể phát sinh trong quá trình cấp tín dụng đối với khách hàng. Trường hợp, nhân viên tín dụng không thu thập hồ sơ đầy đủ theo quy định của ngân hàng hoặc không xem xét tính phù hợp của các hồ sơ mà khách hàng cung cấp thì dễ dẫn đến tình trạng khách hàng cung cấp thiếu thông tin hoặc làm giả hồ sơ nhằm mục đích vay được vốn của ngân hàng, điều này hết sức rủi ro cho ngân hàng vì khách hàng không có thiện trí trả nợ, có thể không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng hoặc sử dụng vốn vay sai mục đích, dẫn tới ngân hàng khó có thể thu hồi được vốn khi khoản vay của khách hàng tới hạn.
- Tài sản thế chấp: e 12 Khi đi vay thì khách hàng cần phải có tài sản để thế chấp cho ngân hàng và dùng tài sản của mình để bảo đảm cho khoản vay tại ngân hàng. Ngân hàng xem tài sản bảo đảm của khách hàng là lá chắn cuối cùng phòng ngừa trường hợp khách hàng không có khả năng trả nợ cho ngân hàng thì ngân hàng sẽ tiến hành xử lý tài sản của khách hàng để thu hồi nợ. Chính vì vậy, ngân hàng phải xem xét, kiểm tra chi tiết, yêu cầu khách hàng bổ sung đầy đủ các giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp, để tránh trường hợp khách hàng cung cấp các giấy tờ giả mạo như Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc cà vẹt xe. Đôi khi xảy ra trường hợp hiện trạng thực tế của tài sản khác với sổ đỏ của khách hàng, nên yêu cầu khách hàng phải trích lục bản đồ của sổ đỏ, điều này sẽ làm cho khách hàng cảm thấy khó khăn trong việc vay vốn, còn về phía ngân hàng thì không thể ngoại lệ các giấy tờ liên quan đến tài sản khách hàng.