CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ nói chung 1. Khái quát về lịch sử ra đời và phát triển Khái niệm KSNB bắt đầu xuất hiện vào đầu thế kỷ XX trong các tài liệu về kiểm toán với một ý nghĩa rất đơn giản là các biện pháp nhằm bảo vệ tiền không bị các nhân viên biển thủ.
Đến năm 1929, thuật ngữ KSNB được đề cập chính thức trong một công bố của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Federal Reserve Bulletin). Theo đó, KSNB được định nghĩa là một công cụ để bảo vệ tiền và các tài sản khác đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạt động. Công nhận tầm quan trọng của KSNB, nhiều tổ chức đã tham gia nghiên cứu về vấn đề này. Trong những năm 1990, các khuôn khổ về KSNB ra đời như COSO (Mỹ), Turnbull (Anh), CoCo (Canada) xuất hiện.
Trong đó, báo cáo của COSO được sử dụng rộng rãi nhất. (International Federation of Accountants, 2006) COSO là một Ủy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận trên báo cáo tài chính, thường gọi là ủy ban Treadway. Ủy ban COSO được thành lập vào năm 1985 dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức nghề nghiệp (AICPA, AAA, FEI, IMA, IIA), mỗi tổ chức này đã chỉ định một đại diện để lập ra Ủy ban COSO. Đến năm 1992, COSO đã phát hành báo cáo.
Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa ra khuôn mẫu lý thuyết KSNB một cách đầy e 7 đủ và có hệ thống. Đặc điểm nổi bật của báo cáo này là cung cấp một tầm nhìn rộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không chỉ là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho cả phương diện hoạt động và tuân thủ. Sau đó, hàng loạt các nghiên cứu về phát triển KSNB trong nhiều lĩnh vực khác nhau đã ra đời, chẳng hạn như: Phát triển về phía quản trị (báo cáo COSO 2004), phát triển cho các doanh nghiệp nhỏ (báo cáo COSO 2006), phát triển theo hướng công nghệ thông tin (CoBIT 1996), phát triển theo hướng kiểm toán độc lập và theo hướng kiểm toán nội bộ (SAS 78, SAS 94, ISA 315, ISA 265), phát triển theo hướng chuyên sâu vào lĩnh vực ngân hàng (Báo cáo Basel 1998). Sau 21 năm kể từ khi Ủy ban COSO ban hành báo cáo COSO 1992, môi trường hoạt động kinh doanh đã có nhiều thay đổi đáng kể, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin.
Do đó, vào năm 2013, Ủy ban COSO đã cập nhật và cải tiến báo cáo nhằm giúp các tổ chức thiết kế và phát triển hệ thống KSNB phù hợp [11]. Định nghĩa về kiểm soát nội bộ Định nghĩa về KSNB trong báo cáo COSO 2013 không có gì thay đổi so với báo cáo COSO 1992 và hiện nay định nghĩa KSNB theo báo cáo này được chấp nhận rộng rãi nhất. Báo cáo COSO 2013 định nghĩa: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, Hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: - Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; - Sự tin cậy của báo cáo tài chính; - Sự tuân thủ các luật lệ và quy định”. Các bộ phận hợp thành hệ thống kiểm soát nội bộ Theo báo cáo COSO 1992, hệ thống KSNB bao gồm 5 bộ phận có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát.
Báo cáo COSO 2013 gồm 3 phần chính: Tóm tắt dành cho người điều hành, khuôn mẫu hệ thống KSNB và công cụ để đánh giá tính hữu hiệu của KSNB. Ngoài ra, COSO còn ban hành thêm sổ tay về KSNB về việc lập báo cáo tài chính cho người bên ngoài, trong đó trình bày về phương pháp tiếp cận và các thí dụ minh họa. Trong khuôn mẫu báo cáo COSO 2013, định nghĩa KSNB và năm bộ phận cấu thành theo báo cáo COSO 1992 vẫn được giữ nguyên. So với COSO 1992, báo cáo COSO 2013 có một số điểm thay đổi chính sau: - Thứ nhất, về mục tiêu của KSNB: Báo cáo COSO 2013 vẫn đưa ra ba mục tiêu cơ bản mà hệ thống KSNB cần hướng đến, đó là mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo tài chính và mục tiêu tuân thủ.
Tuy nhiên, ở mục tiêu báo cáo tài chính, báo cáo COSO 2013 còn nhấn mạnh đến báo cáo tài chính cho người bên ngoài và báo cáo phi tài chính. - Thứ hai, về các nhân tố hợp thành hệ thống KSNB: Báo cáo COSO vẫn đưa ra năm bộ phận của KSNB. Tuy nhiên, trong nội dung chi tiết, có một số thay đổi cho phù hợp với thay đổi của môi trường kinh doanh, ngoài ra, nội dung căn bản của năm bộ phận được tổng hợp thành 17 nguyên tắc giúp nhà quản lý dễ dàng hơn trong việc thiết lập hệ thống KSNB. Các nguyên tắc theo báo cáo COSO 2013 được trình bày chi tiết ở Phụ lục 2.
Hạn chế tiềm tàng của hệ thống kiểm soát nội bộ Hệ thống KSNB, dù được thiết kế và vận hành như thế nào thì cũng chỉ e 9 cung cấp một đảm bảo hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu của đơn vị (COSO, 2013). Như vậy, hệ thống này chỉ có thể giúp hạn chế tối đa những sai phạm chứ không thể đảm bảo không có bất kỳ sai phạm nào xảy ra vì nó có những hạn chế tiềm tàng xuất phát từ những nguyên nhân sau đây [11]: - Những hạn chế xuất phát từ bản thân con người như sự vô ý, bất cẩn, đãng trí, đánh giá sai, hiểu sai chỉ dẫn của cấp trên hoặc các báo cáo của cấp dưới,… - Khả năng đánh lừa, che giấu của nhân viên thông qua sự thông đồng với nhau hay với các đối tượng bên ngoài đơn vị. - Hoạt động kiểm soát thường chỉ nhằm vào các hoạt động thường xuyên phát sinh mà ít chú ý đến những nghiệp vụ không thường xuyên, do đó những sai phạm trong các nghiệp vụ này thường bị bỏ qua. - Yêu cầu thường xuyên và trên hết đặt ra của người quản lý là chi phí bỏ ra cho hoạt động kiểm soát phải nhỏ hơn giá trị thiệt hại ước tính do nhầm lẫn hay gian lận gây ra.
- Luôn có khả năng là các cá nhân có trách nhiệm kiểm soát đã lạm dụng quyền hạn của mình để phục vụ cho mưu đồ riêng. - Điều kiện hoạt động của đơn vị thay đổi nên dẫn tới những thủ tục kiểm soát cũng không còn phù hợp… Chính những hạn chế nói trên của KSNB là nguyên nhân khiến cho KSNB không thể đảm bảo tuyệt đối mà chỉ đảm bảo hợp lý trong việc đạt được các mục tiêu của mình. Ngân hàng thương mại và sự cần thiết phải kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại 1. Khái niệm, vai trò và chức năng của ngân hàng thương mại NHTM là một định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng trong nền kinh tế.
Cùng với sự phát triển và biến đổi của hệ thống ngân hàng, sự e 10 pha trộn các hoạt động truyền thống của ngân hàng với các loại hình trung gian tài chính, khái niệm về NHTM cũng thay đổi. Tại Hoa Kỳ: “Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, chuyên cung cấp các dịch vụ về tài chính như nhận tiền gửi, chuyển tiền, thanh toán, cho vay, đầu tư, đổi tiền, mua bán ngoại hối và các dịch vụ khác liên quan đến tiền như bảo quản, ủy thác, làm đại lý trong nước và quốc tế” [13]. Tại Pháp: “Theo đạo luật ngân hàng Pháp năm 1941, ngân hàng thương mại là những doanh nghiệp hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền bạc của công chúng dưới hình thức ký thác hoặc dưới các hình thức khác và sử dụng số tiền đó cho chính họ trong các nghiệp vụ về chiết khấu, tín dụng và cung cấp các dịch vụ tài chính” [13]. Tại Việt Nam, theo điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010, “Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận” [14].
Như vậy, NHTM là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với các hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cung cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán cho các chủ thể trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận. NHTM có vai trò quan trọng trong nền kinh tế và được thể hiện như sau [2], [3]: - Thứ nhất, điều tiết nguồn vốn, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho nền kinh tế: Nhờ hoạt động của NHTM mà nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế được tập hợp lại thành nguồn vốn lớn phục vụ cho đời sống xã hội và phát triển kinh tế. NHTM trở thành kênh chu chuyển vốn quan trọng trong e 11 nền kinh tế, cung ứng vốn cho các chủ thể và góp phần thúc đẩy kinh tế. - Thứ hai, tạo điều kiện thúc đẩy thị trường tài chính phát triển: Hoạt động của NHTM vừa mang tính cạnh tranh vừa có tác động hỗ tương đến các hoạt động khác trong lĩnh vực tài chính như thị trường chứng khoán, bảo hiểm,… Khi NHTM ngày càng phát triển và hoàn thiện thì ngày càng có nhiều dịch vụ hỗ trợ cho các hoạt động trên.
Ngược lại, sự phát triển đa dạng của các sản phẩm trên thị trường tài chính sẽ tác động trở lại đối với sự phát triển của các NHTM, xuất hiện sự kết hợp và bán chéo sản phẩm của NHTM với các định chế tài chính khác như: công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính và quỹ đầu tư,…góp phần gia tăng doanh số giao dịch trên thị trường tài chính.