Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay học sinh sinh viên của Ngân hàng Chính sách Xã hội. - Chương 2: Thực trạng hoạt động cho vay học sinh sinh viên tại Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh Phú Thọ. - Chương 3: Đề xuất giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay học sinh sinh viên tại Ngân hàng Chính sách Xã hội chi nhánh Phú Thọ. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỌC SINH SINH VIÊN CỦA NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM.
KHÁI QUÁT HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG. Khái niệm của tín dụng. Theo giáo trình Tín dụng Ngân hàng (2019), Tín dụng được định nghĩa là “quan hệ kinh tế trong đó có sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức giá trị hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.” Nếu xem xét ở một góc độ hẹp hơn, "Tín dụng Ngân hàng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa ngân hàng và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp và các chủ thể khác), trong đó, ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán”. Theo Luật các tổ chức tín dụng luật số: 32/2024/QH15 cũng đã quy định rất rõ: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng thông qua việc bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định, trong một thời gian nhất định, theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận cho bên cho vay.” “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng, thư tín dụng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.
Phân loại tín dụng. Theo giáo trình Tín dụng Ngân hàng (2019), việc phân loại tín dụng giúp cho ngân hàng quản lý được các khoản tín dụng thống nhất và có hiệu quả hơn. Phân loại tín dụng giúp cho ngân hàng kế hoạch hóa vốn và sử dụng vốn trong hoạt động của NHTM một cách có hiệu quả và tránh được rủi ro, giúp cho ngân hàng gắn quá trình cấp vốn phù hợp với luân chuyển vật tư hàng hóa. Căn cứ vào thời hạn cho vay: Là tiêu chí mà các ngân hàng thường xuyên sử dụng nhất.
Thời hạn cho vay là thời hạn được xác định từ khi ngân hàng bỏ tiền ra cho đến khi thu hồi hết vốn. Trong tiêu thức này, tín dụng được chia làm 3 loại sau: Tín dụng ngắn hạn: Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng có thời hạn tối đa 01 (một) năm. Loại tín dụng này thường được sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động thiếu hụt tạm thời của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng ngắn hạn của cá nhân và hộ gia đình. Tín dụng ngắn hạn bao gồm các hình thức Tín dụng trung hạn: Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ trên từ 01 năm đến tối đa là 5 năm (tùy theo quy định của từng quốc gia, có nước quy định 03 năm hoặc 07 năm).
Hình thức tín dụng trung hạn thường được sử dụng cho vay đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Tín dụng trung hạn bao gồm các hình thức: Tín dụng dài hạn: Tín dụng dài hạn là loại tín dụng có thời hạn trên 05 năm. Hình thức tín dụng này thường sử dụng vốn vay vào mục đích chủ yếu đầu tư hình thành mới tài sản cố định và thời hạn thu hồi vốn dài. Tín dụng dài hạn cũng bao gồm 2 hình thức: cho vay theo dự án và cho thuê tài chính.
Căn cứ vào mục đích sử dụng: Tín dụng sản xuất và kinh doanh hàng hóa: Đây là loại tín dụng cấp cho các nhà doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất và kinh doanh hàng hóá. Tín dụng tiêu dùng: Đây là một loại hình cho vay nhằm giải quyết những nhu cầu vốn phục vụ cho tiêu dùng của khách hàng là các hộ gia đình và cá nhân như: mua sắm nhà ở, ô tô, du lịch. Căn cứ vào mức độ bảo đảm: Tín dụng có bảo đảm: Đây là loại tín dụng được thực hiện trước khi cho vay ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có tài sản bảo đảm hoặc có một người thứ ba đứng ra bảo lãnh cho khoản tín dụng. Thông thường những tài sản bảo đảm là bất động sản hoặc động 9 sản như: giấy tờ có giá, trang thiết bị.
Yêu cầu cơ bản của tài sản này là dễ dàng chuyển nhượng. Lý do chủ yếu đòi hỏi một khoản cho vay phải được bảo đảm là nhằm tăng cường trách nhiệm của người đi vay và cũng tạo điều kiện để ngân hàng giảm bớt rủi ro mất mát trong trường hợp người đi vay không muốn hoặc không thể trả nợ vay đến hạn. Tín dụng không bảo đảm: Khác với cho vay có đảm bảo, cho vay không có đảm bảo được dựa trên lòng tin và tình hình tài chính của người vay, lợi tức dự tính trong tương lai, và tình hình trả nợ trước đây. Ngân hàng thường áp dụng hình thức này với một số khách hàng quen thuộc.
Họ thường là khách hàng vay chủ yếu của ngân hàng. Những khách hàng đó có khả năng quản lý có tốt, có các sản phẩm và các dịch vụ được thị trường sẵn sàng chấp nhận, có lợi nhuận tương đối ổn định, và với một tình hình tài chính vững mạnh. Họ sẵn sàng cung cấp cho ngân hàng các báo cáo tài chính để ngân hàng dễ theo dõi sự tiến bộ của họ. Với điều kiện như vây, ngân hàng sẵn sàng chấp nhận cho vay không có đảm bảo.
Các doanh nghiệp không phải là những đơn vị duy nhất được vay trên cơ sở không cần đảm bảo mà nhiều cá nhân cũng được hưởng đặc quyền này. Những người có nhà riêng, công ăn việc làm ổn định, trước đây có tình hình trả nợ tốt thường được vay theo hình thức này. Căn cứ vào nguồn gốc tín dụng: Tín dụng trực tiếp: Là loại tín dụng trong đó ngân hàng thực hiện việc cấp tín dụng cho người vay và người vay trực tiếp thực hiện nghĩa vụ hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. Tín dụng gián tiếp: Là loại tín dụng ngân hàng thực hiện việc cấp tín dụng cho khách hàng thông qua việc mua lại các khế ước, chứng từ nợ từ khách hàng.
Đặc điểm khác biệt của loại tín dụng này là tín dụng thương mại xuất hiện trước tín dụng ngân hàng. Vai trò của tín dụng. Nền kinh tế thị trường luôn luôn tồn tại các yếu tố cạnh tranh, các doanh nghiệp muốn chiếm lĩnh thị trường, nâng cao vị thế cạnh tranh của mình thì không còn con đường nào khác là phải không ngừng nâng cao quy mô và chất lượng hoạt động kinh 10 doanh của mình. Để làm được điều đó và sử dụng hiệu quả nhất nguồn vốn thì tín dụng ngân hàng là sự lựa chọn tối ưu của các doanh nghiệp.
Tín dụng ngân hàng góp phần giải quyết mâu thuẫn cơ bản giữa nhà đầu tư và nhà tiết kiệm. Trong nền kinh tế thường xuyên xuất hiện những nguồn vốn bằng tiền tạm thời chưa sử dụng đặc biệt là tiền tiết kiệm của dân chúng. Mặt khác, có một số doanh nghiệp, cá nhân lại xuất hiện hiện tượng thiếu vốn tạm thời hoặc là họ có cơ hội đầu tư nhưng lại không đủ tiền. Sự có mặt của tín dụng ngân hàng được coi là một công cụ đề giải quyết mâu thuẫn trên về cung cầu vốn tiền tệ.
Như vậy ngân hàng có vai trò tập hợp tiền nhàn rỗi trong dân cư và hỗ trợ vốn cho các hoạt động doanh nghiệp. Thông qua tín dụng ngân hàng, tiền nhàn rỗi phân tán khắp mọi nơi có thể là của các doanh nghiệp, dân cư sẽ được tập trung lại và đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Có như vậy, vốn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường mới có điều kiện mang đầy đủ nội dung kinh tế của phạm trù "tư bản" tức là với một đồng vốn bỏ ra, khi quay trở lại sẽ lớn hơn giá trị ban đầu. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Các doanh nghiệp ngoài vốn chủ sở hữu, họ có thể tăng cường vốn cho hoạt động sản xuất của mình bằng phương pháp sau: Phương pháp tài chính: là phương pháp Nhà nước thường xuyên sử dụng nhằm cấp phát, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp. Trong phương pháp này tính hoàn trả không được nhấn mạnh, chính vì vậy tính sinh lời, tính hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp bị triệt tiêu. Phương pháp tín dụng: là phương pháp cấp vốn dưới hình thức cho vay có sự hoàn trả cả vốn và lãi. Chính vì vậy, tín dụng ngân hàng đã kích thích tăng cường hạch toán kinh tế của doanh nghiệp tức là các doanh nghiệp sử dụng vốn tín dụng phải cân nhắc, tính toán kỹ lưỡng, giảm chi phí sản xuất, từ đó nâng cao lợi nhuận cho các doanh nghiệp và tăng hiệu quả sử dụng đồng vốn.
Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình giao lưu kinh tế quốc tế. Ngày nay trong mối quan hệ kinh tế, sự hợp tác bình đẳng đôi bên cùng có lợi giữa các nước trên thế giới và khu vực đang được phát triển rất đa dạng cả về nội dung và hình thức, cả về chiều rộng và chiều sâu. Đó là nhân tố hết sức quan trọng tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế của mỗi nước. Đầu tư vốn ra nước ngoài và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa là hai lĩnh vực hợp tác kinh tế thông dụng.
Vốn là nhân tố quyết định đầu tiên cho việc thực hiện quá trình này. Thế nhưng không một tố chức kinh tế nào, một cá nhân nào có thể có đủ vốn. Vì vậy, ngân hàng với tư cách là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, thông qua hoạt động tín dụng ngân hàng sẽ cấp vốn cho các nhà đầu tư và kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa. HOẠT ĐỘNG CHO VAY HỌC SINH SINH VIÊN TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI VIỆT NAM.
Đặc thù của NHCSXH.