phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng - Chƣơng 1:Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay đối với HSSV tại NHCSXH - Chƣơng 2:Thực trạng hoạt động cho vay đối với HSSV tại NHCSXH tỉnh Đăk Nông. - Chƣơng 3: Các giải pháp hoàn thiện hoạt động cho vay đối với HSSV tại NHCSXH tỉnh Đăk Nông. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Luận án tiến sỹ “Giải pháp hoàn thiện mô hình tổ chức và cơ chế hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội“ của tác giả Hà Thị Hạnh Luan van 5 Luận án đã nhìn nhận rõ hơn về mô hình tổ chức hoạt động cũng nhƣ cơ chế hoạt động của NHCSXH, bảo vệ tại Đại học kinh tế quốc dân năm 2003. Tác giả đã tập trung nghiên cứu mô hình tố chức hoạt động phù hợp tại Việt nam, trên cơ sở tác giả đã tham khảo học hỏi kinh nghiệm của một số nƣớc có mô hình Ngân hàng giống nƣớc ta.
Nhƣng vì đặc thù chính trị và bộ máy quản lý nhà nƣớc khác nhau nên tác giả đã nghiên cứu hoàn thiện từ mô hình Ngân hàng ngƣời nghèo trƣớc kia để mở rộng hơn nữa đáp ứng phục vụ nhân dân đƣợc tốt hơn. Luận văn này đề cập đến vấn tổ chức và cơ chế hoạt động của NHCSXH nói chung nên có nhiều điểm chung có thể kế thừa nhƣng phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu quá rộng so với đề tài mà tác giả đang nghiên cứu. Luận văn thạc sỹ: “Các yếu tố tác động đến khả năng trả nợ và thời gian thanh toán của hộ vay vốn học sinh sinh viên tại Hội sở VBSP Lâm Đồng”của tác giả Cao Thị Hồng Nhạn, đƣợc bảo vệ tại Đại học bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013. Đề tài nghiên cứu nhằm cung cấp thông tin về việc xác định các yếu tố tác động đến khả năng trả nợ và thời gian thanh toán của hộ vay vốn chƣơng trình HSSV để ngăn ngừa, hạn chế rủi ro trong công tác thu hồi nợ, từ đó đƣa ra các giải pháp nhằm thu hồi nợ đến hạn tốt hơn đối với các khoản cho vay HSSV tạiHội sở NHCSXH Lâm Đồng, góp phần tăng hiệu quả, chất lƣợng đầu tƣ của các chƣơng trình cho vay HSSV mà Hội sở NHCSXH Lâm Đồng đang thực hiện.
Kết quả nghiên cứu là cơ sở để đề xuất, kiến nghị với NHCSXH cấp trên xem xét trình Chính phủ điều chỉnh, bổ sung cơ chế, chính sách cho phù hợp với thực tế hoạt động cho vay HSSV tại NHCSXH Lâm Đồng. Cách tiếp cận của luận văn là cách tiếp cận định lƣợng. Mặt khác, phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn tại NHCSXH Lâm Đồng. Luan van 6 Luận văn thạc sỹ “Giải pháp phát triển tín dụng đối với học sinh sinh viên tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Thanh An, đƣợc bảo vệ tại Học viện Ngân hàng năm 2013.
Trên cơ sở vận dụng các phƣơng pháp nghiên cứu, luận văn đã tổng quan khá đầy đủ và toàn diện về lý luận chung về tín dụng ngân hàng, nguyên nhân hình thành tín dụng đối với HSSV. Phân tích, đánh giá đƣợc thực trạng việc cho vay chƣơng trình tín dụng đối với HSSV tại NHCSXH, tìm ra các vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân của các tồn tại đó. Trên cơ sở phân tích các tồn tại đã đƣa ra một số giải pháp cũng nhƣ các kiến nghị nhằm phát triển tín dụng đối với HSSV tại NHCSXH Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu của đề tài là toàn bộ NHCSXH Việt nam.
Vì vậy, đề tài chƣa có điều kiện để chú ý đến những đặc thù địa phƣơng. Luận văn thạc sỹ “Nâng cao chất lƣợng cho vay đối với học sinh, sinh viên tại Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam” của tác giả Võ Thị Lan Hƣơng đƣợc bảo vệ tại Đại học Kinh tế Quốc dân năm 2014. Đề tài đã khái quát đƣợc các vấn đề lý thuyết về mở rộng và chất lƣợng cho vay đối với HSSV, đối chiếu vào hoạt động cụ thể của NHCSXH, đánh giá chất lƣợng cho vay đối với HSSV tại Ngân hàng, qua đó mạnh dạn đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lƣợng cho vay đối với HSSV tại NHCSXH. Tuy nhiên, hạn chế của đề tài là khái niệm chất lƣợng đƣợc hiểu quá rộng.
Nó báo gồm trong đó cả những tiêu chí về quy mô, về rủi ro và hiệu qủa xã hội. Luan van 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỌC SINH, SINH VIÊN TẠI NHCSXH 1. NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI TRONG HỆ THỐNG NGÂN HÀNG 1. Tổng quan về hệ thống ngân hàng Trong nền kinh tế thị trƣờng, hệ thống Ngân hàng thông thƣờng gồm có Ngân hàng Trung ƣơng và hệ thông các Ngân hàng trung gian.
Ngoài NH Trung ƣơng với các chức năng cơ bản nhƣ: chức năng phát hành tiền; chức năng ngân hàng của các NH trung gian; chức năng quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực tiền tệ, tín dụng, ngân hàng, thanh toán và ngoại hối, tuỳ thuộc bối cảnh kinh tế - xã hội và vì nhiều lý do có tính lịch sử mà mô hình hệ thống ngân hàng trung gian không giống nhau giữa các nƣớc. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào tính chất hoạt động, hệ thống ngân hàng trung gian có thể phân thành các loại hình chủ yếu nhƣ sau: - Ngân hàng thƣơng mại: là loại hình ngân hàng trung gian phổ biến. Hiện nay, do sự nới lỏng trong các quy chế quản lý hệ thống tài chính của các nƣớc - mà hệ quả của nó là ranh giới giữa các loại hình trung gian tài chính ngày càng mờ nhạt - nên việc định nghĩa ngân hàng thƣơng mại trở nên rất khó. Thực ra, lúc đầu chƣa có sự phân biệt giữa các loại ngân hàng vì các ngân hàng đều thực hiện những nghiệp vụ giống nhau.
Sau đó, ngân hàng thƣơng mại đƣợc định nghĩa nhƣ là những ngân hàng đƣợc phép mở các tài khoản tiền gửi không kỳ hạn. Tuy nhiên, đặc quyền này đã bị xâm phạm bởi các loại trung gian tài chính khác trong những thập kỷ gần đây. Vì vậy, ngân hàng thƣơng mại đƣợc định nghĩa nhƣ là một ngân hàng hoạt động vì mục đích lợi nhuận, kinh doanh tổng hợp hoặc “một loại hình tổ chức tài chính Luan van 8 cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán - và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”. - Ngân hàng đặc biệt: là những ngân hàng hoạt động không vì lợi nhuận mà chủ yếu nhằm thực hiện các tài trợ ƣu đãi cho các đối tƣợng nhất định theo những chính sách của Nhà nƣớc, phục vụ các định hƣớng can thiệp, điều tiết của Nhà nƣớc đối với thị trƣờng.
Một số dạng ngân hàng này nhƣ : Ngân hàng xuất nhập khẩu ở Mỹ, ngân hàng bình dân, ngân hàng địa ốc ở Pháp, ngân hàng phát triển nhà ở của Hàn Quốc. Vốn của Ngân hàng này phần lớn của Nhà nƣớc. - Ngân hàng phát triển. Đây là loại ngân hàng có chức năng chủ yếu là huy động vốn trung và dài hạn để đầu tƣ trung dài hạn phục vụ nhu cầu phát triển bằng cách cho vay các dự án cơ sở hạ tầng hoặc các lĩnh vực ƣu tiên, hoặc góp vốn, cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nói tóm lại có chức năng hỗ trợ phát triển. - Ngân hàng hợp tác: là các ngân hàng đƣợc thành lập và hoạt động trên cơ sở tƣơng hỗ giữa các thành viên. Nguồn vốn đƣợc tạo lập chủ yếu từ vốn góp của các thành viên. Sử dụng vốn chủ yếu để cho các thành viên vay.
- Ngân hàng đầu tƣ: Hoạt động của các ngân hàng loại này chủ yếu liên quan đến các dịch vụ về chứng khoán nhƣ tƣ vấn và bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý danh mục đầu tƣ. Có 2 mô hình hoạt động của ngân hàng đầu tƣ: Mô hình hoạt động thuần tuý về các dịch vụ chứng khoán nhƣ trên và mô hình kết hợp với các dịch vụ ngân hàng thƣơng mại. Đối với những ngân hàng đầu tƣ thuộc mô hình thứ nhất, mặc dù có tên gọi ngân hàng nhƣng thực chất chúng không phải là những trung gian tài chính. Do xu hƣớng đa năng hoá, ranh giới giữa ngân hàng đầu tƣ và ngân hàng thƣơng mại ngày càng không rõ ràng.
Ngân hàng chính sách xã hội a. Ngân hàng chính sách Ngân hàng Chính sách là một loại hình ngân hàng đặc biệt, hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà để thực hiện các chính sách tín dụng ƣu đãi của nhà nƣớc đối với một số đối tƣợng cụ thể. Nền kinh tế thị trƣờng trong quá trình phát triển tuy phù hợp nhƣng cũng có những mặt trái của nó nhƣ: sự phân hóa giàu nghèo, sự thiếu cân bằng trong đầu tƣ,. Nền kinh tế thị trƣờng sẽ tồn tại những ngành hàng, những khu vực, đối tƣợng khách hàng có sức cạnh tranh kém, không đủ các điều kiện để tiếp cận với dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại nhƣ các ngành hàng mang tính lợi ích công cộng, những khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện thời tiết khắc nghiệt, chi phí đầu tƣ cao, rủi ro lớn, do đó các Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) rất ít đầu tƣ vào khu vực này, mặt khác nhiều hộ dân, tổ chức kinh tế ở vùng này thiếu vốn nhƣng không đủ các điều kiện để vay vốn các Ngân hàng thƣơng mại.
Tuỳ điều kiện và quan điểm của mỗi quốc gia, Chính phủ sẽ thiết lập các kênh tín dụng hoặc các ngân hàng chuyên biệt để thực hiện chính sách cho vay các nhóm đối tƣợng này. Nhƣ vậy, các khoản tín dụng chính sách là các khoản cho vay chỉ định để hỗ trợ các chính sách kinh tế và ngành công nghiệp của Chính phủ. Đây là việc cho vay phi thƣơng mại đối với các hoạt động mà không đáp ứng các tiêu chí thƣơng mại nhƣng lại có tác động xã hội và chính trị quan trọng trong từng thời kỳ của mỗi quốc gia. Các ngân hàng đƣợc thiết lập để chuyên thực hiện tín dụng Chính sách của Chính phủ đƣợc gọi là loại hình Ngân hàng Chính sách.
Các mô hình phổ biến trên thế giới về việc hình thành các NH Chính sách thƣờng bao gồm hai loại hình chính: Luan van 10 - Ngân hàng chính sách phục vụ chính sách phát triển kinh tế theo định hƣớng của Chính phủ, thƣờng đƣợc gọi là Ngân hàng phát triển. - Ngân hàng Chính sách phục vụ các chính sách xã hội của Nhà nƣớc thƣờng đƣợc gọi là NH chính sách xã hội.