CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ ÁP DỤNG TRONG DOANH NGHIỆP 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRONG QUẢN LÝ 1. Kiểm soát trong quản lý Hoạt động của bất kỳ tổ chức nào trong các lĩnh vực của đời sống xã hội đòi hỏi phải có quản lý. Quản lý là quá trình định hướng và tổ chức thực hiện các kế hoạch đã định trong phạm vi những nguồn lực xác định.
Quá trình quản lý bao gồm nhiều chức năng và được chia thành nhiều giai đoạn như: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch và đánh giá kết quả thực hiện. Dù rằng ở mỗi giai đoạn đều có những mục tiêu và phương pháp triển khai tổ chức cụ thể và khác nhau nhưng hoạt động kiểm tra, kiểm soát được thể hiện ở tất cả các khâu và giai đoạn. Giả như, giai đoạn lập kế hoạch cần có những dự toán về nguồn lực và thiết lập các mục tiêu cho nên rất cần kiểm tra, kiểm soát nhằm đảm bảo việc lập kế hoạch khả thi và dễ dàng triển khai. Còn ở giai đoạn tổ chức thực hiện cần phải kết hợp các nguồn lực tối ưu nhằm hướng tới và đạt được mục tiêu vạch trước.
Trong giai đoạn này, vai trò của kiểm tra và kiểm soát trở nên rất cần thiết nhằm bảo đảm tiến độ kế hoạch diễn ra theo đúng định hướng và điều chỉnh kịp thời. Ở giai đoạn cuối cùng, đánh giá kết quả thực hiện, thì vai trò của kiểm tra và kiểm soát là rất lớn, nhằm soát xét và thẩm định thông tin để từ đó tiến tới những kết luận đích xác, phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn. Vì thế, có thể đi tới kết luận rằng, kiểm tra, kiểm soát có ở tất cả các giai đoạn của quá trình quản lý. Và kiểm tra, kiểm soát không phải là một giai đoạn của quá trình quản lý mà chúng là một chức năng của quản lý.
Chức năng này có được phát huy hay không còn tuỳ thuộc vào cơ chế quản lý, loại hình, quy mô hoạt động của từng đơn vị cũng như điều kiện kinh tế, xã hội của từng thời kỳ nhất định. Như vậy, kiểm soát là tổng hợp những phương sách để nắm lấy và điều hành đối 7 tượng hay khách thể quản lý. Kiểm soát có thể hiểu theo nhiều chiều, nhiều cấp như: Cấp trên kiểm tra, kiểm soát cấp dưới thông qua những thủ tục và chính sách của đơn vị hoặc đơn vị này kiểm soát đơn vị khác thông qua những thoả thuận, quy định có tính ràng buộc về sở hữu hay lợi ích hoặc chính bản thân các bộ phận trong cùng một tổ chức cũng có thể kiểm tra, kiểm soát lẫn nhau thông qua các quy chế, chính sách và thủ tục quản lý do đơn vị đề ra. Mặc dù vậy, ranh giới giữa kiểm tra và kiểm soát cũng chỉ có ý nghĩa tương đối.
Kiểm tra được hiểu là hoạt động soát xét của cấp trên với cấp dưới. Do vậy, ở cấp độ quản lý Nhà nước thì trong kiểm soát đã có cả hoạt động kiểm tra. Phân loại hoạt động kiểm soát Hoạt động kiểm soát bao gồm nhiều loại, được phân loại theo những tiêu chí khác nhau như: Nội dung kiểm soát, theo phạm vi và đối tượng cụ thể về kiểm soát, theo thời điểm kiểm soát hay theo quan hệ giữa chủ thể và khách thể hoặc theo quy trình tác nghiệp. Theo nội dung kiểm soát: Kiểm soát bao gồm kiểm soát về quản lý và kiểm soát về kế toán.
Kiểm soát về quản lý là hệ thống các chế độ, thủ tục, quy định mà Ban Giám đốc có trách nhiệm xây dựng nhằm bảo đảm sự tuân thủ của tổ chức đối với các thủ tục, chính sách, quy chế của đơn vị cũng như các quy định pháp luật hiện hành để từ đó đề ra những tiêu chuẩn làm chuẩn mực trong hoạt động quản lý, góp phần sử dụng các nguồn lực có hiệu quả cũng như đặt ra các chiến lược, mục tiêu cần đạt được rồi từ đó hoàn thiện dần các thủ tục, chính sách. Nội dung của hoạt động kiểm soát về quản lý còn tuỳ thuộc vào đặc thù cụ thể của từng lĩnh vực hoạt động mà đơn vị đó tham gia. Đối với các đơn vị kinh doanh, hoạt động kinh doanh diễn ra rất đa dạng với các ngành nghề, lĩnh vực khác nhau cho nên cần có những nội dung và phương pháp kiểm soát đặc thù nhằm đảm bảo sự tuân thủ chi tiết. Còn với hoạt động sự nghiệp thì mục tiêu kiểm soát mang tính tuân thủ về quản lý nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ với chi phí hợp lý và tiết kiệm.
Vì thế, kiểm soát 8 thường xem xét tới tính tuân thủ và hiệu năng quản lý. Kiểm soát về quản lý rất phù hợp với các loại kiểm soát hoạt động nhân sự, kiểm soát tổ chức, kiểm soát chất lượng kỹ thuật. Kiểm soát về quản lý thường gắn liền với trách nhiệm thực hiện mục tiêu của tổ chức và là cơ sở để thiết lập kiểm soát về kế toán. Kiểm soát về kế toán là việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện các trình tự cần thiết để nhận biết, thu thập, phân loại và ghi sổ cũng như báo cáo các nghiệp vụ kinh tế, tài chính nhằm bảo vệ tài sản, bảo đảm độ chính xác của thông tin, bảo đảm hiệu quả trong quản lý, bảo đảm việc thực hiện đúng chế độ pháp lý, theo các Chuẩn mực Kế toán chung được thừa nhận hoặc các chính sách và thủ tục chi tiết trong quản lý.
Kiểm soát kế toán phù hợp với các loại kiểm soát tài chính. Đối với thực thể là đơn vị kinh doanh thì kiểm soát kế toán phù hợp với kiểm soát các chu trình bán hàng - thu tiền, chu trình mua hàng - thanh toán, chu trình hàng tồn kho, tài sản cố định và đầu tư dài hạn, chu trình tiếp nhận và hoàn trả vốn, chu trình tiền lương, nhân sự. Do vậy, kiểm soát kế toán chỉ quan tâm tới hoạt động tài chính của đơn vị được phản ánh trên sổ sách tài liệu kế toán. Trong khi đó, kiểm soát quản lý yêu cầu phạm vi rộng hơn.
Theo phạm vi và đối tượng cụ thể của kiểm soát: Kiểm soát có thể chia thành kiểm soát toàn diện và kiểm soát chuyên đề. Kiểm soát toàn diện là kiểm soát đầy đủ từ chính sách, thủ tục qua hệ thống thông tin và thủ tục kiểm soát. Loại hình kiểm soát này thường gắn với KSNB của một đơn vị. Kiểm soát chuyên đề chỉ tập trung vào những yếu tố, những mặt cụ thể, chủ yếu của hoạt động để có thể nắm bắt và điều hành kịp thời.
Kiểm soát chuyên đề có thể được thể hiện qua kiểm soát chất lượng của một loại hoạt động hay kiểm soát rủi ro của từng loại nghiệp vụ kinh tế, tài chính cụ thể. Theo quan hệ với quá trình tác nghiệp: Kiểm soát bao gồm: Kiểm soát ngăn ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát điều chỉnh. Kiểm soát ngăn ngừa tập trung chủ yếu vào công tác nhân sự, xây dựng các chính sách và thủ tục để làm chuẩn mực cho tác nghiệp nghiệp vụ nhằm ngăn ngừa các gian lận, sai sót có thể xảy ra. 9 Kiểm soát phát hiện tập trung vào việc phát hiện các sai sót, gian lận và các rủi ro đề từ đó giúp các cấp quản lý có những quyết định kịp thời, giảm thiểu những thiệt hại có thể xảy ra.
Kiểm soát điều chỉnh hướng tới việc cung cấp các thông tin cần thiết cho việc ra các quyết định điều chỉnh các sai sót hiện hành. Theo thời điểm kiểm soát thì kiểm soát được chia thành: Kiểm soát trước, kiểm soát tác nghiệp và kiểm soát sau. Kiểm soát trước là hoạt động tự xác định và dự báo những diễn biến có thể xảy ra trong quá trình tác nghiệp để có các biện pháp đề phòng những rủi ro và tránh các khó khăn tiềm ẩn. Kiểm soát tác nghiệp là hoạt động kiểm soát diễn ra ngay trong quá trình tác nghiệp nhằm ngăn ngừa, phát hiện sai phạm cũng như kiểm tra sự tuân thủ các quyết định trong quản lý.
Loại kiểm soát này có vai trò đáng kể nhằm giảm thiểu những rủi ro và sai sót đồng thời nâng cao tính hiệu quả, hiệu năng của hoạt động quản lý. Kiểm soát sau thường được sử dụng để đánh giá hiệu quả thực hiện kế hoạch. Đây cũng là loại kiểm soát được áp dụng khá phổ biến hiện nay khi một kế hoạch được thực hiện xong. Kiểm soát này chủ yếu dựa vào những thông tin phản hồi và còn được gọi là kiểm soát thông tin phản hồi.
Theo quan hệ giữa chủ thể với khách thể kiểm soát: Theo tiêu thức phân loại này có thể chia thành 2 loại kiểm soát: Kiểm soát từ bên ngoài (ngoại kiểm) và kiểm soát nội bộ (nội kiểm). Việc phân loại như này chỉ mang ý nghĩa tương đối bởi vì nếu một đơn vị kinh doanh là chi nhánh thuộc tập đoàn đa quốc gia hoạt động tại Việt Nam và là khách thể của một chương trình kiểm toán nội bộ của tập đoàn toàn cầu tiến hành thì việc kiểm tra, kiểm soát của chương trình kiểm toán của cấp trên đó sẽ mang tính ngoại kiểm. Tuy nhiên, nếu xét trong phạm vị tổng thể của cấp trên thì các hoạt động của chương trình trên đều mang tính nội kiểm vì hoạt động của chương trình kiểm toán nội bộ đó do tập đoàn áp dụng cho các cơ sở kinh doanh ở các quốc gia khác nhau. TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TRỌNG DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ Có rất nhiều định nghĩa về kiểm soát nội bộ, vì nó ảnh hưởng khác nhau đến các bên liên quan trong tổ chức theo những cách khác nhau với những mức độ khác nhau. Hiện nay định nghĩa được chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của COSO. COSO được thành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bộ và đưa ra các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị có thể xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu. Báo cáo của COSO 1992 được công bố dưới tiêu đề Kiểm soát nội bộ - Khuôn khổ hợp nhất (Internal Control – Intergrated framework) đã định nghĩa về kiểm soát nội bộ như sau: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên trong đơn vị, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu sau đây: “Sự hữu hiệu và hiệu quả của hoạt động; Sự tin cậy của báo cáo tài chính; Sự tuân thủ pháp luật và các quy định.