Chương 1 này sẽ trình bày các tổng quát cơ sở lý luận về kênh phân phối và hoạt động của kênh phân phối. Đây sẽ là cơ sở cho việc đánh giá hệ thống kênh ở chương 2. Nội dung cụ thể như sau: 1. Khái quát về kênh phân phối 1.
Định nghĩa kênh phân phối Theo Philip Kotler (2002): “Kênh phân phối là một tập hợp các công ty hay cá nhân tự gánh vác hay giúp đỡ chuyển giao cho một ai đó quyền sở hữu đối với một hàng hoá cụ thể hay dịch vụ trên con đường từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng” Nói cách khác, kênh phân phối là một tập hợp các doanh nghiệp, các cá nhân độc lập và phụ thuộc lẫn nhau, mà qua đó doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thực hiện bán hàng hoá của mình cho người sử dụng hoặc người tiêu dùng cuối cùng, do đó các quan hệ trong kênh phân phối là quan hệ thị trường thực sự với vô số các hành vi kinh doanh và là một quá trình vận động liên tục, không ngừng. Từ khái niệm cơ bản trên, có thể hiểu kênh phân phối các dịch vụ viễn thông như sau: “Kênh phân phối dịch vụ viễn thông là tập hợp các cá nhân hoặc tổ chức tham gia vào quá trình chuyển giao quyền sở hữu các sản phẩm, dịch vụ viễn thông của nhà cung cấp tới khách hàng”. Từ khái niệm trên chúng ta thấy trong kênh phân phối gồm có các thành viên như nhà sản xuất hoặc cung ứng dịch vụ, trung gian phân phối, khách hàng. Chức năng của kênh phân phối Kênh phân phối là con đường mà sản phẩm, dịch vụ được lưu thông theo dòng chảy từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.
Nhờ đó mà khắc phục được những ngăn cách dài về thời gian, địa điểm và quyền sở hữu giữa sản phẩm, dịch vụ với những người mong muốn sử dụng chúng. Do đó, các thành viên trong kênh phân phối phải thực hiện các chức năng chủ yếu sau: 9 Quản trị kinh doanh Nguyễn Ngọc Tân Chia sẻ rủi ro Nghiên cứu - thu Thương lượng thập thông tin Các chức năng của 1 kênh phân phối Thiết lập Hoàn thiện hàng mối quan hệ hoá, dịch vụ Xúc tiến Tài trợ Phân phối vật chất Hình 1. Chức năng của kênh phân phối - Nghiên cứu thị trường: Thu thập thông tin cần thiết để lập kế hoạch và tạo điều kiện thuận lợi cho việc trao đổi. - Thiết lập mối quan hệ: Tạo dựng và duy trì mối liên hệ với các nhà tiêu dùng tiềm năng.
- Xúc tiến: Kích thích tiêu thụ, khuyếch trương, soạn thảo và truyền bá thông tin về sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. - Phân phối vật chất: Tổ chức lưu thông, vận chuyển, bảo quản, dự trữ hàng hoá. - Tài trợ: Huy động và phân bổ nguồn vốn cần thiết để dự trữ, vận chuyển, bán hàng và thanh toán các chi phí hoạt động của kênh phân phối. - Hoàn thiện hàng hoá, dịch vụ: Làm cho hàng hoá, dịch vụ đáp ứng yêu cầu của người mua.
Việc này liên quan đến các dạng hoạt động như sản xuất, phân loại, lắp ráp và đóng gói. 10 Quản trị kinh doanh Nguyễn Ngọc Tân - Thương lượng: Những việc thoả thuận với nhau về giá cả và những điều kiện khác để thực hiện bước tiếp theo là chuyển giao quyền sở hữu hay quyền sử dụng. - Chia sẻ rủi ro: Chấp nhận những rủi ro liên quan tới việc điều hành hoạt động của kênh phân phối.3 Lợi ích của kênh phân phối Lợi ích cơ bản nhất của kênh phân phối làm giảm các tiếp xúc trực tiếp giữa nhà sản xuất và khách hàng cuối cùng. Hoạt động phân phối được chuyển giao cho các nhà chuyên nghiệp, các hoạt động của họ sẽ đem lại nhiều lợi ích hơn so với việc nhà sản xuất tự phân phối.
Sử dụng các trung gian phân phối có thể đem lại những sự tiết kiệm khá lớn (hình 2). Mô hình phân phối trực tiếp và qua trung gian (kênh) phân phối Ở đây với giả định có 4 nhà sản xuất và 4 khách hàng nếu sử dụng phân phối trực tiếp phải thiết lập 16 giao dịch. Nhưng nếu có trung gian phân phối số lần giao dịch (tiếp xúc) giảm xuống còn 8 giao dịch. Điều đó cho thấy lợi ích to lớn của việc thiết lập được hệ thống phân phối hiệu quả.
11 Quản trị kinh doanh Nguyễn Ngọc Tân 1. Vai trò của kênh phân phối đối với doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường Kênh phân phối là một phần rất quan trọng trong những nỗ lực tiếp cận thị trường của mỗi doanh nghiệp, nó là “cầu nối” giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Đây là hệ thống lưu thông, tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp trên thị trường. Vì vậy, mục tiêu của tổ chức và quản lý kênh phân phối là hướng tới thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng mục tiêu, đồng thời đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh ngày càng khốc liệt kênh phân phối có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển cũng như tồn tại của mỗi doanh nghiệp: - Hỗ trợ việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng. - Làm tăng hiệu quả của quá trình cung cấp sản phẩm, dịch vụ. - Làm tăng sự phong phú của sản phẩm, dịch vụ đến người tiêu dùng. - Làm cân đối nhu cầu giữa sản xuất lớn với tiêu dùng nhỏ.
- Làm thỏa mãn những nhu cầu khác nhau của các nhóm khách hàng khác nhau. - Cung cấp cho khách hàng những giải pháp mới hơn, tốt hơn. - Nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp: trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn ra không chỉ diễn ra trên các phương diện như chất lượng, giá cả, các hoạt động quảng cáo và khuyến mại… mà nó còn diễn ra trong cả lĩnh vực phân phối. Sự tiện lợi và nhanh chóng trong cung ứng hàng hoá, dịch vụ hiện nay đang là một trong những công cụ cạnh tranh quan trọng của doanh nghiệp.
Việc doanh nghiệp xây dựng được cho mình hệ thống kênh phân phối tối ưu sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp tận dụng được các nguồn lực, đảm bảo sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng về chất lượng và thời gian giao hàng… 1.Các loại kênh phân phối Các loại kênh marketing thường dùng nhất được trình bày trong hình 3. 12 Quản trị kinh doanh Nguyễn Ngọc Tân Hình 3. Các loại kênh marketing Kênh trực tiếp không có trung gian, nhà sản xuất bán hàng thẳng cho người tiêu dùng. Có ba cách bán hàng trực tiếp: Bán đến từng nhà, bán tại cửa hàng giới thiệu sản phẩm và bán theo thư hoặc điện thoại đặt hàng Kênh 1 cấp chỉ có một trung gian bán hàng trong thị trường hàng tiêu dùng, đó là người bán lẻ.
Trong thị trường hàng công nghiệp, đó là người môi giới hay đại diện bán hàng. Kênh 2 cấp có 2 trung gian marketing. Trong thị trường hàng tiêu dùng, đó thường là nhà bán sỉ và bán lẻ. Trong thị trường kỹ nghệ thì đó là bộ phận phân phối của công ty và các nhà buôn.
Kênh 3 cấp có 3 trung gian phân phối. Ví dụ: Trong ngành nước ngọt, rượu bia có thể có thêm tổng đại lý hay đại lý bán buôn - người bán sỉ và người bán lẻ.Tổ chức và hoạt động của kênh 1.1 Hoạt động của kênh phân phối Một kênh phân phối là một sự liện kết các cơ sở khác nhau lại vì lợi ích chung. Mỗi thành viên trong đường dây đều dựa vào những thành viên khác. Các nhà phân phối xe Ford dựa vào công ty Ford để có được những chiếc xe thiết kế và chế tạo tốt, đáp ứng được nhu cầu của khách.
Công ty Ford thì lại dựa vào các nhà phân 13 Quản trị kinh doanh Nguyễn Ngọc Tân phối để thu hút khách hàng, thuyết phục họ mua xe Ford và cung cấp các dịch vụ sau khi họ đã mua. Sự thành công của mỗi nhà phân phối xe Ford cũng phụ thuộc vào việc toàn bộ đường dây của hãng có cạnh tranh giỏi với đường dây của các hãng xe hơi khác không? Mỗi thành viên trong đường dây giữ một vai trò riêng và chuyên thực hiện một hay nhiều chức năng. Vai trò của hãng IBM là sản xuất ra những máy tính cá nhân hấp dẫn khách hàng và tạo ra sức cầu qua quảng cáo rộng rãi toàn quốc. Vai trò của cửa hàng chuyên doanh máy tính là trưng bày máy tại những vị trí thuận lợi, trả lời thắc mắc của khách hàng muốn mua, ký kết thương vụ và cung cấp dịch vụ cho khách.
Đường dây sẽ có hiệu quả nhất khi từng thành viên được giao nhiệm vụ mà họ có thể làm tốt nhất. Vì sự thành công của các cá nhân thành viên tuỳ thuộc vào thành công của cả đường dây, nên mọi cơ sở trong đường dây đều phải hiểu vào chấp nhận phần việc riêng của mình, phối hợp mục tiêu và hoạt động của mình với mục tiêu và hoạt động của các thành viên khác và phối hợp để hoàn thành mục tiêu của đường dây. Bằng sự hợp tác, họ có thể nắm bắt, cung ứng và thỏa mãn thị trường mục tiêu tốt hơn. Để toàn bộ đường dây hoạt động tốt, cần chuyên môn hóa vai trò của từng thành viên và các xung đột và nếu có các xung đột thì phải được điều giai hữu hiệu.
Sự hợp tác, chuyên môn hóa và xung đột trong đường dây chỉ thực hiện được với một cấp lãnh đạo vững mạnh. Đường dây sẽ hoạt động tốt hơn nếu có một guồng máy điều hành có quyền lực, phân chia lực lượng hợp lý trong đường dây, biết cách phân nhiệm vụ và phân giải xung đột một cách khoa học.2 Tổ chức kênh phân phối Trước đây, các kênh phân phối là tập hợp ngẫu nhiên, các thành viên độc lập về chủ quyền vào quản lý, đồng thời mỗi thành viên ít quan tâm tới hoạt động của cả kênh. 14 Quản trị kinh doanh Nguyễn Ngọc Tân 1. Sự phát triển của hệ thống marketing dọc VMS (Vertical Marketing System) Một hệ thống marketing dọc VMS hoạt động như một thể thống nhất, gồm các nhà sản xuất, nhà bán sỉ và nhà bán lẻ.
Hoặc thành viên này là chủ của thành viên khác hoặc cho họ độc quyền kinh tiêu hoặc có quyền lực mạnh đến nỗi các thành viên kia phải hợp tác. Một VMS có thể do một nhà sản xuất, một nhà bán lẻ hay một nhà bán sỉ thống trị. VMS xuất hiện nhằm kiểm soát hoạt động của kênh và điều giải xung đột do mỗi thành viên chỉ chạy theo lợi ích riêng của mình. So sánh kênh marketing thông thường với hệ thống marketing dọc: Hình 4.
So sánh kênh marketing thông thường với hệ thống marketing dọc 1.