CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN Các nghiên cứu về việc ra quyết định được thực hiện trên thế giới và tại Việt Nam, được áp dụng trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, đời sống hàng ngày. Và đồng thời đã được áp dụng tại các tổ chức tín dụng. Ứng dụng một phần hoặc toàn bộ các nghiên cứu trên đã đem lại những lợi ích tích cực cho hoạt động của các tổ chức tín dụng. Một số công trình nghiên cứu về việc ra quyết định và ứng dụng vào trong hoạt động tín dụng như sau: - Luận văn thạc sỹ “Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp phục vụ cho Ngân hàng khi đưa ra quyết định vay” của tác giả Đoàn Ngọc Quỳnh, Đại học kinh tế quốc dân, năm 2011.
Đề tài đã nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận về tổng quan hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại, quy trình ra quyết định cho vay, các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định cho vay. Đề tài đưa các tiêu chí đánh giá chỉ tiêu tài chính nhưng tỷ suất sinh lời, hiệu quả sử dụng tài sản, cân đối nguồn nguồn. Tác giả đưa ra việc phân tích tài chính đến quyết định cho vay - Luận văn thạc sỹ: “Hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng trong hoạt động cho vay tại Viettin bank Thanh Xuân” của tác giả Nguyễn Văn Tình, Đại học kinh tế quốc dân, năm 2011 Đề tài đã nghiên cứu một cách có hệ thống lý luận về tổng quan hoạt động thẩm định tại ngân hàng, quy trình thẩm định tín dụng, các yếu tố ảnh hướng đến việc thẩm định tín dụng. Đề tài đưa ra một số khuyến nghị hoàn thiện công tác thẩm định.
Đánh giá chung về các công trình đã thực hiện: Các công trình đã thực hiện đã nghiên cứu đến các vấn đề về thẩm định tín dụng. Nhìn chung, các nghiên cứu đã đề cập đến những vấn đề sau: 9 - Tập hợp các định nghĩa về thẩm định tín dụng, quyết định cho vay - Tập hợp các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định tín dụng - Phân tích thực trạng thẩm định tín dụng tại một số tổ chức tín dụng - Một số khuyến nghị để hoàn thiện công tác thẩm định tại các tổ chức tín dụng Trên cơ sở những phân tích trên, các tác giả đã vận dụng những phương pháp luận và cách tiếp cận khoa học để đề xuất giải pháp để hoàn thiện công tác thẩm định tín dụng tại các tổ chức tín dụng Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp về mặt lý luận cũng như thực tiễn thì các công trình nghiên cứu còn có một số hạn chế sau: - Các đề nghị tập trung một khía cạnh, một giai đoạn của quá trình ra quyết định tín dụng. 10 1CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. QUYẾT ĐỊNH VÀ RA QUYẾT ĐỊNH 1.
Khái niệm và phân loại việc ra quyết định 1. Một số khái niệm ra quyết định Người ta gọi sự lựa chọn một trong hai hay nhiều khả năng hành động nhằm thực hiện mục tiêu của người ra quyết định là quyết định (1- sách QTKD trang 322). Hiểu rộng hơn thì một quyết định diễn ra cả ở sự lựa chọn một trong nhiều phương án hành động có ý thức và cả ở sự lựa chọn không có ý thức (2- sách QTKD trang 322). Phân loại quyết định a.
Theo tính chất quan trọng của quyết định Theo tính chất quan trọng của quyết định có quyết định quan trọng và quyết định không quan trọng. - Quyết định quan trọng là loại quyết định có tầm quan trọng đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh, đầu tư,. của doanh nghiệp. Quyết định loại này có thể dẫn đến sự thành bại (quyết định chiến lược), hoặc được/mất rất lớn, tác động thậm chí đến sự phát triển của doanh nghiệp.
Do tầm quan trọng của nó mà quyết định loại này phải do các nhà quản trị cao cấp ban hành. - Quyết định không quan trọng là loại quyết định có tác động không lớn đến hoạt động sản xuất – kinh doanh, đầu tư,. của doanh nghiệp. Quyết định loại này thường do các nhà quản trị cấp trung hoặc cấp cơ sở đảm nhiệm.
Theo độ dài thời gian Theo độ dài thời gian có quyết định dài hạn, quyết định trung hạn, quyết định ngắn hạn - Quyết định dài hạn là các quyết định mà quá trình thực hiện hoặc kết quả đạt được trong thời gian dài. Nhiều nhà quản trị cho rằng thời hạn dài nếu có độ dài trên năm năm 11 - Quyết định trung hạn có thời gian thực hiện hoặc kết quả đạt được trong khoảng thời gian vừa phải. Nhiều nhà quản trị cho rằng thời gian trung hạn có độ dài trên 1 năm và dưới 5 năm Càng gần đây, người ta càng ít phân biệt giữa trung và dài hạn mà có xu hướng gọi chung là quyết định dài hạn. - Quyết định ngắn hạn có thời hạn trong khoảng 1 năm.
Thậm chí có nhiều quyết định ngắn hạn dưới 1 năm c. Theo góc độ kế hoạch của quyết định Theo góc độ kế hoạch của quyết định người ta phân biệt giữa quyết định chiến lược và quyết định chiến thuật - Quyết định chiến lược là những quyết định trên cơ sở tư duy chiến lược định hướng phát triển doanh nghiệp trong thời gian tương đối dài và có liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau trong hệ thống tổ chức doanh nghiệp. - Quyết định chiến thuật hay các quyết định tác nghiệp là những quyết định liên quan tới nội dung và cách thức thực hiện những nhiệm vụ và cách thức thực hiện những nhiệm vụ của quyết định chiến lược. Các quyết định tác nghiệp thường dựa trên cơ sở các quyết định chiến lược để triển khai.
Theo chủ thể ra quyết định Theo chủ thể ra quyết định có quyết định cá nhân và quyết định tập thể - Quyết định cá nhân là quyết định do một cá nhân ban hành. Vấn đề là ở chỗ theo các nguyên tắc trách nhiệm trong khoa học quản trị thì các quyết định điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nên/phải là các quyết định cá nhân. - Quyết định tập thể là quyết định do tập thể ban hành. Loại quyết định này thường có ở các công ty sở hữu hỗn hợp.
Ở đó có các cơ quan quyền lực chẳng hạn đại hồi đồng cổ đông, hội đồng quản trị,.Quyết định của các cơ quan quyền lực này thường mang tính đại diện cho bên được cả tập thể có liên quan biểu quyết. Theo cấp ban hành quyết định Theo cấp banh hành ra quyết định có quyết định cấp cao, quyết định cấp trung gian và quyết định cấp thấp. 12 - Quyết định cấp cao là quyết định do các nhà quản trị cao cấp ban hành. Đây thường là lọa quyết định quan trọng của doanh nghiệp - Quyết định cấp trung gian là quyết định do các nhà quản trị cấp trung gian ban hành.
Đây thường là loại quyết định tác nghiệp - Quyết định cấp thấp là quyết định do các nhà quản trị cấp cơ sở ban hành. Đây thường là loại quyết định điều chỉnh hành vi hàng ngày và gắn với nhiệm vụ của một nhà quản trị nào đó. Theo đối tượng quyết định Theo đối tượng chịu sự quyết định có thể có các quyết định xét ở các góc độ khác nhau - Nếu xét ở góc độ từng chức năng hoạt động của doanh nghiệp sẽ có: quyết định về tiêu thụ, quyết định về sản xuất, quyết định về hậu càn, quyết định về tài chính, quyết định ở lĩnh vực tính toán và cuối cùng là quyết định quản trị - Nếu xét ở góc độ quản trị có thể có các quyết định định hướng, quyết định tổ chức, quyết định điều khiển, quyết định lãnh đạo và quyết định kiểm soát. Ngày nay, khi đề cập đến các chức năng quản trị, một số nhà quản trị còn tác chức năng quản trị nhân lực riêng.
- Nếu xét ở nội dung quản trị sẽ có các quyết định về xây dựng doanh nghiệp, quyết định quản trị nguồn nhân lực, quyết định về công nghệ - kỹ thuật, quyết định cung ứng nguyên vật liệu, quyết định sản xuất, quyết định chất lượng. Khái niệm và phân loại hoạt động tín dụng của ngân hàng 1. Khái niệm hoạt động tín dụng Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác (Luật các TCTD 2010) 1. Phân loại hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Căn cứ vào mục đích quản lý tín dụng của các ngân hàng thương mại, tín dụng được phân ra theo nhiều tiêu chí như sau: 13 Căn cứ theo thời gian cho vay: Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng mà thời hạn tín dụng tối đa chỉ đến 12 tháng, được sử dụng để bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, thương mại dịch vụ; hoặc phục vụ các nhu cầu tiêu dùng với cá nhân hoặc hộ gia đình.
Tín dụng ngắn hạn có thời gian hoàn vốn nhanh do đó phần nào tránh được rủi ro lãi suất, lạm phát, và các bất ổn của nền kinh tế. Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng tới 60 tháng. Loại tín dụng này chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô vừa và nhỏ đồng thời có thời gian thu hồi vốn nhanh. Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm.
Loại tín dụng này chủ yếu được sử dụng trong việc xây dựng nhà ở, mua sắm máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, đầu tư xây dựng các nhà máy xí nghiệp. Căn cứ vào sự bảo đảm cho vay, tín dụng bao gồm: Tín dụng không có tài sản đảm bảo (tín chấp): Là loại tín dụng khi thực hiện không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba để đảm bảo cho khả năng hoàn trả của khoản vay. Việc thực hiện tín dụng chỉ dựa vào uy tín của người vay hoặc bảo lãnh bằng uy tín của một bên thứ ba là các doanh nghiệp hay các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội.