Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh doanh và quản lý với đề tài "Hoàn thiện hệ thống báo cáo thường niên trong các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam" do nghiên cứu sinh Lê Thị Tú Oanh thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2012), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Nguyễn Năng Phúc. Luận án thuộc chuyên ngành Kế toán (kế toán, kiểm toán và phân tích), mã số chuyên ngành 62.01.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Thị trường chứng khoán (TTCK) tập trung tại Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 7 năm 2000. Trong phiên giao dịch đầu tiên ngày 28/07/2000, thị trường chỉ có 2 công ty cổ phần (CTCP) niêm yết. Đến năm 2005, số lượng đã tăng lên 27 doanh nghiệp, trong đó có 20 công ty hình thành từ tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Đến thời điểm tác giả thực hiện nghiên cứu, số lượng doanh nghiệp niêm yết trên cả hai sàn giao dịch là Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) đã đạt khoảng 600 doanh nghiệp.

Sự phát triển nhanh chóng của thị trường đòi hỏi tính công khai và minh bạch thông tin ở mức độ cao. Tuy nhiên, theo báo cáo do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) phối hợp cùng Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) công bố vào tháng 6 năm 2006 về tình hình quản trị công ty tại Việt Nam, nguyên tắc công bố thông tin và tính minh bạch về cơ bản chưa được các doanh nghiệp tuân thủ đầy đủ. Về mặt pháp lý, Luật Chứng khoán quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 16 về thời hạn công bố thông tin báo cáo tài chính (BCTC) năm kiểm toán trong vòng 10 ngày. Thông tư số 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010 của Bộ Tài chính (thay thế Thông tư số 38/2007/TT-BTC ngày 18/04/2007) quy định thời hạn hoàn thành BCTC năm chậm nhất là 90 ngày kể từ ngày kết thúc năm tài chính, và thời hạn nộp báo cáo thường niên (BCTN) chậm nhất là 20 ngày kể từ ngày kết thúc thời hạn nộp BCTC.

Mặc dù đã có hành lang pháp lý, trên thực tế việc lập và công bố BCTN còn nhiều bất cập: thông tin đến với nhà đầu tư chậm trễ, nội dung thiếu thống nhất, kết cấu chưa hoàn chỉnh, thông tin giải trình mang nặng tính đối phó và chủ yếu phục vụ nhu cầu kiểm soát của cơ quan Nhà nước hơn là phục vụ phân tích, đánh giá hiệu quả kinh doanh của công chúng đầu tư. Về mặt học thuật trong nước, tính đến thời điểm năm 2012, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về BCTN của các CTCP niêm yết mà phần lớn chỉ tập trung vào hệ thống BCTC. Do đó, việc nghiên cứu hoàn thiện hệ thống BCTN là một đòi hỏi cấp thiết từ thực tiễn và lý luận.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Phân tích có hệ thống về lý luận của BCTN trong các doanh nghiệp, chỉ rõ bản chất, vai trò và các nội dung mà BCTN cần có.
  2. Đánh giá thực trạng hệ thống BCTN của các CTCP niêm yết trên TTCK Việt Nam, làm rõ các ưu điểm, nhược điểm và nguyên nhân của những hạn chế trong việc lập và công bố BCTN.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp cùng điều kiện thực hiện nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống BCTN trong các CTCP niêm yết trên TTCK Việt Nam, cung cấp thông tin tin cậy phục vụ quyết định của nhà đầu tư và cơ quan quản lý.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống báo cáo thường niên trong các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Nội dung: Tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng công bố thông tin qua BCTN và đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống BCTN (bao gồm cả hình thức, kết cấu, nội dung, chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, phương thức và thời gian công bố).
    • Không gian: Các CTCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (tại HOSE và HNX).
    • Thời gian và dữ liệu: Dữ liệu BCTN được khảo sát và thu thập từ năm 2007 đến năm 2010; các khảo sát xã hội học đối với nhà đầu tư, chuyên gia và doanh nghiệp được triển khai trong giai đoạn 2010 - 2011.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trên thế giới

Tác giả đã điểm lại hệ thống nghiên cứu quốc tế về BCTN theo các nhóm nội dung:

  • Tính hữu ích của việc công bố thông tin kế toán: Các nghiên cứu của Frazier và cộng sự (1984), Tennyson và cộng sự (1990) nhấn mạnh BCTN là công cụ truyền tải thông tin cốt lõi, bao gồm thông tin mô tả về quá khứ và thông tin dự báo về xu hướng tương lai.
  • Mối liên hệ giữa đặc điểm doanh nghiệp, yếu tố quốc tế và văn hóa với BCTN: Nghiên cứu của Meek và Gray (1989), Meek và cộng sự (1995), Zarzeski (1996) tập trung phân tích sự ảnh hưởng của doanh số bán hàng quốc tế, nguồn gốc quốc gia và nền tảng văn hóa kinh doanh đa quốc gia đến nội dung và mức độ công bố thông tin trên BCTN.
  • Hành vi và mục đích của người sử dụng: Mitchell và cộng sự (1997), Scholes và Clutterbuck (1998) khẳng định mỗi nhóm cổ đông tiếp cận BCTN với các mục tiêu riêng biệt, do đó thông tin cần được điều chỉnh linh hoạt theo kỳ vọng của người sử dụng; nghiên cứu của Yankelovitch và cộng sự (1995) tại Hoa Kỳ chỉ ra gần 3/4 nhà đầu tư dựa vào thông tin công bố trên BCTN để đưa ra quyết định đầu tư.
  • Độ tin cậy của thông điệp nhà quản trị: Higgins và Bannister (1992), Thomas (1997) chứng minh BCTN càng minh bạch và đáng tin cậy thì sức hấp dẫn của doanh nghiệp đối với nhà đầu tư càng gia tăng. Ngược lại, các tác giả Bettman và Weitz (1983), Salancik và Meindl (1984), Clapham và Schwenk (1991) chỉ ra xu hướng tâm lý nhà quản lý thường chủ động khuếch trương kết quả kinh doanh thuận lợi và quy kết các kết quả kém khả quan cho nguyên nhân khách quan bất khả kháng.

Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các công trình trước thời điểm luận án công bố chủ yếu nghiên cứu về hệ thống BCTC ở từng nhóm hình thức hoặc phân khúc doanh nghiệp cụ thể:

  • Trần Thị Cẩm Thanh (2006) nghiên cứu hoàn thiện việc lập và phân tích BCTC tại các công ty Xổ số Kiến thiết.
  • Nguyễn Minh Hiếu (2003) nghiên cứu hoàn thiện hệ thống BCTC phục vụ phân tích tài chính trong các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam.
  • Nguyễn Viết Lợi (2003) xây dựng quan điểm hoàn thiện BCTC nhằm cung cấp thông tin phân tích tài chính doanh nghiệp.
  • Phạm Thành Long (2008) nghiên cứu phân tích và kiểm tra BCTC nhằm tăng cường quản trị tài chính tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
  • Nguyễn Phúc Sinh (2008) phân tích nâng cao tính hữu ích của BCTC đối với người sử dụng qua khảo sát doanh nghiệp, nhà đầu tư và giảng viên.
  • Nguyễn Thị Kim Cúc (2009) nghiên cứu hoàn thiện hệ thống BCTC doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.
  • Báo cáo khảo sát của Hiệp hội Kế toán công chứng Anh quốc tại Việt Nam (ACCA Việt Nam) công bố ngày 21/04/2011 về Báo cáo diễn giải (thông tin phi tài chính), tuy nhiên phạm vi khảo sát chỉ hướng tới nhóm giám đốc tài chính quốc tế mà chưa khảo sát phía đối tượng người sử dụng trong nước.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình khoa học trong nước nêu trên mới dừng lại ở phạm vi nghiên cứu BCTC. Chưa có công trình nào giải quyết toàn diện vấn đề lý luận và thực tiễn của hệ thống BCTN dành riêng cho các CTCP niêm yết trên TTCK Việt Nam. Luận án đi sâu giải quyết khoảng trống này bằng cách: phân định bản chất giữa BCTC và BCTN; tích hợp việc khảo sát thực tế cả bên lập báo cáo (doanh nghiệp niêm yết) và bên sử dụng báo cáo (nhà đầu tư cá nhân, chuyên gia phân tích); từ đó đề xuất khuôn mẫu BCTN đồng bộ, bổ sung các báo cáo bộ phận và chỉ tiêu phân tích cần thiết.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Bản chất của BCTN: Luận án định vị BCTN là báo cáo tổng hợp phản ánh, đánh giá và phân tích toàn diện tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau một năm tài chính. BCTN không đồng nhất với BCTC; BCTC chỉ là một bộ phận cấu thành trong BCTN. Bên cạnh các dữ liệu định lượng tài chính, BCTN chứa đựng lượng lớn thông tin phi tài chính không định lượng được (tuyên bố sứ mệnh, chiến lược phát triển, phân tích giải trình của ban quản trị, thông tin trách nhiệm xã hội, báo cáo kiểm toán).
  • Phân loại thông tin trong BCTN:
    • Theo nội dung phản ánh: Thư gửi cổ đông; Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh; Báo cáo tổng kết tình hình tài chính.
    • Theo tính chất thông tin: Thông tin tài chính (Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh BCTC, ý kiến kiểm toán, bảng tóm tắt chỉ tiêu tài chính cơ bản nhiều năm) và Thông tin phi tài chính (thông điệp của Chủ tịch Hội đồng quản trị, phân tích thảo luận của Ban điều hành, thông tin thị trường, bộ máy quản trị, lao động, môi trường).
  • Các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống BCTN: Luận án hệ thống hóa 5 nhóm nhân tố: (1) Sự phát triển kinh tế; (2) Hệ thống pháp luật (sự khác biệt giữa hệ thống Thông luật - Common Law như Anh, Mỹ và hệ thống Điển chế luật - Code Law như các nước Châu Âu lục địa); (3) Nguồn cung cấp tài chính (thị trường tài chính dựa vào TTCK hay dựa vào hệ thống ngân hàng); (4) Đặc điểm văn hóa và giáo dục; (5) Xu hướng hội nhập với chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB/IFRS, FASB).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Quy trình nghiên cứu được cụ thể hóa thành 4 bước:

Bước thực hiện Nội dung và kỹ thuật triển khai Nguồn dữ liệu / Công cụ
Bước 1 Thu thập, phân loại và phân tích mẫu văn bản BCTN của các CTCP niêm yết. Mẫu gồm 40 BCTN giai đoạn 2007 - 2010. Tiêu chí chọn mẫu: các doanh nghiệp đạt giải Cuộc thi bình chọn BCTN hàng năm và phân tầng theo 3 cấp quy mô vốn điều lệ (lớn, trung bình, nhỏ).
Bước 2 Thiết kế phiếu khảo sát điều tra xã hội học nhằm lấy ý kiến đánh giá về hình thức, nội dung, chỉ tiêu phân tích, thời gian và cách thức công bố BCTN. Bảng câu hỏi khảo sát gửi tới 3 nhóm đối tượng: Nhà đầu tư, Chuyên gia phân tích tài chính và Đại diện doanh nghiệp niêm yết (người lập báo cáo).
Bước 3 Thống kê mô tả, tổng hợp bảng tần số, kiểm định và so sánh mức độ quan tâm, đánh giá tính cần thiết và mức độ khó khăn giữa các nhóm đối tượng. Phần mềm thống kê SPSS 18 (xử lý dữ liệu định lượng, lập biểu đồ phân tích).
Bước 4 Tổng hợp kết quả phân tích định lượng, kết hợp bài học kinh nghiệm quốc tế (Mỹ, Anh, Úc, Trung Quốc) để xây dựng hệ thống giải pháp và điều kiện thực thi. Bảng tổng hợp đối chiếu quy định pháp lý, mô hình đề xuất mẫu BCTN mới.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về hệ thống báo cáo thường niên trong các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán

Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận về BCTN trong nền kinh tế thị trường:

  • Bản chất, vai trò và phân loại BCTN: Phân định rõ chức năng kép của BCTN: vừa là công cụ pháp lý cung cấp thông tin minh bạch cho thị trường, vừa là kênh truyền thông và tiếp thị hình ảnh doanh nghiệp đến công chúng. BCTN cung cấp dữ liệu quá khứ kết hợp định hướng tương lai, giúp khắc phục tính bất đối xứng thông tin giữa ban điều hành và các nhà đầu tư bên ngoài.
  • Mối quan hệ giữa BCTN và BCTC: Khẳng định BCTC là bộ phận trọng tâm nhưng không thể thay thế BCTN. BCTC chịu sự chi phối chặt chẽ của các chuẩn mực kế toán (VAS số 21, VAS số 24 và Chế độ kế toán doanh nghiệp theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC), trong khi BCTN mang tính tích hợp mở rộng, bổ sung các dữ liệu phân tích quản trị, giải trình chi tiết về chính sách kế toán và cam kết của người quản lý.
  • Đặc điểm của CTCP niêm yết tác động đến BCTN: Tác giả chỉ ra 6 đặc trưng cơ bản: số lượng cổ đông lớn; cơ cấu tổ chức tách bạch giữa quyền sở hữu (Hội đồng quản trị - HĐQT) và quyền quản lý điều hành (Ban Giám đốc - BGĐ); cơ chế quản lý tập trung; năng lực huy động vốn rộng rãi; tính thanh khoản và chuyển nhượng cổ phần dễ dàng; sự giám sát nghiêm ngặt của điều kiện niêm yết tại các Sở Giao dịch Chứng khoán. Các đặc điểm này buộc BCTN phải được chuẩn hóa về kết cấu nhằm bảo vệ quyền lợi cổ đông thiểu số.
  • Kinh nghiệm quốc tế về BCTN:
    • Hoa Kỳ: Bắt nguồn từ Đạo luật Chứng khoán 1933 và Đạo luật Giao dịch Chứng khoán 1934 sau cuộc khủng hoảng năm 1929. Ủy ban Chứng khoán Mỹ (SEC) áp dụng mẫu báo cáo 10-K bắt buộc với các nội dung chi tiết: tóm tắt chỉ tiêu tài chính 5 - 10 năm, phần thảo luận và phân tích của ban quản lý (MD&A), báo cáo kiểm toán độc lập, cùng các công bố về đóng góp chính trị và trách nhiệm xã hội.
    • Vương quốc Anh: Hoạt động theo hệ thống Thông luật; Luật Công ty năm 1985 và 1989 quy định các doanh nghiệp niêm yết tại Sở GDCK London phải công bố BCTN trong vòng 6 tháng sau khi kết thúc năm tài chính. BCTN Anh có đặc trưng: doanh nghiệp trên 250 lao động phải giải trình chi tiết chính sách nhân sự và cơ hội bình đẳng; bắt buộc công bố khoản đóng góp chính trị và từ thiện vượt mức 200 bảng Anh kèm lý do cụ thể; từ năm 1996 bắt buộc giải trình chính sách thanh toán công nợ.
    • Úc: Luật Tập đoàn năm 1989 (hiệu lực từ 01/01/1991) quy định BCTN phải có bản tuyên bố cam kết của BGĐ về tính trung thực, hợp lý của BCTC và khả năng thanh toán nợ đến hạn; yêu cầu phân tích quản lý tập trung vào thực thể kinh tế hợp nhất thay vì công ty mẹ đơn lẻ.
    • Kinh nghiệm so sánh Trung Quốc đại lục và Hồng Kông (thể hiện qua Bảng 1.1 trong luận án): Cung cấp bài học về quản lý công bố thông tin trong bối cảnh thị trường đang phát triển có sự tương đồng với Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng hệ thống báo cáo thường niên của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 2 phân tích chi tiết môi trường thực tế tại Việt Nam:

  • Bối cảnh TTCK Việt Nam: Quá trình tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô vốn, khối lượng cổ phiếu niêm yết và số tài khoản giao dịch của nhà đầu tư (Hình 2.1, Hình 2.2, Hình 2.3).
  • Khung pháp lý công bố BCTN: Phân tích Thông tư 09/2010/TT-BTC ngày 15/01/2010 ban hành Mẫu Báo cáo thường niên (Bảng 2.1). Mẫu quy định gồm các phần: Thông tin chung; Tình hình hoạt động trong năm; Báo cáo của HĐQT; Báo cáo của Ban Giám đốc; Báo cáo tài chính kiểm toán; Báo cáo của Ban Kiểm soát.
  • Đánh giá thực trạng qua khảo sát 40 BCTN mẫu và điều tra xã hội học:
    • Về hình thức và cấu trúc: Thứ tự sắp xếp các tài liệu trong BCTN năm 2010 của nhiều công ty còn tùy tiện, thiếu tính nhất quán (Bảng 2.2). Kết quả khảo sát cho thấy tỷ lệ cao người sử dụng ủng hộ việc chuẩn hóa một khuôn mẫu trình bày thống nhất (Hình 2.8, Bảng 2.3).
    • Về mức độ quan tâm đối với các báo cáo bộ phận: Báo cáo tài chính và Báo cáo kiểm toán là hai bộ phận nhận được mức độ quan tâm cao nhất từ phía người sử dụng (Bảng 2.4, Bảng 2.6, Bảng 2.7, Hình 2.9, Hình 2.10). Người sử dụng cũng khẳng định sự cần thiết phải duy trì song song báo cáo của HĐQT và báo cáo của BGĐ (Bảng 2.5).
    • Về sự trùng lặp và nội dung không cần thiết: Luận án phát hiện tình trạng trùng lặp nghiêm trọng giữa Báo cáo của HĐQT và Báo cáo của Ban Giám đốc (Bảng 2.11, Bảng 2.12). Cả hai báo cáo đều trình bày lại kết quả sản xuất kinh doanh, doanh thu, lợi nhuận mà thiếu sự phân định chức năng: HĐQT cần đánh giá giám sát và hoạch định chiến lược, trong khi BGĐ cần phân tích chi tiết công tác điều hành tác nghiệp (Bảng 2.8, Bảng 2.9, Bảng 2.10, Hình 2.11, Hình 2.12, Hình 2.13).
    • Về mức độ khó khăn khi sử dụng và nhu cầu chỉ tiêu: Người sử dụng gặp nhiều trở ngại do BCTN thiếu các diễn giải phân tích sâu (Bảng 2.13, Hình 2.14). Nhu cầu về các chỉ tiêu tài chính cơ bản và chỉ tiêu phân tích (ROA, ROE, lãi trên cổ phần EPS, cơ cấu nợ) là rất lớn nhưng chưa được các công ty cung cấp đầy đủ hoặc chỉ cung cấp số liệu đơn lẻ từng năm mà thiếu chuỗi số liệu so sánh nhiều năm (Bảng 2.14, Bảng 2.15, Hình 2.15, Hình 2.16).
    • Về thời gian và cách thức công bố: Tình trạng chậm nộp BCTN diễn ra phổ biến so với thời hạn quy định (chậm hơn 20 ngày sau khi hoàn thành BCTC). Kênh cung cấp thông tin chủ yếu qua website doanh nghiệp và hệ thống của Sở GDCK nhưng việc tiếp cận đôi khi bị gián đoạn (Bảng 2.16, Hình 2.17).

Chương 3: Quan điểm và giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo thường niên của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Chương 3 đưa ra các định hướng giải quyết toàn diện:

  • Sự cần thiết, nguyên tắc và quan điểm hoàn thiện: Dựa trên kết quả khảo sát về mức độ ảnh hưởng của BCTN đến quyết định của nhà đầu tư (Bảng 3.1, Hình 3.1) và chuyên gia (Bảng 3.2, Hình 3.2), tác giả xác lập 4 nguyên tắc hoàn thiện:
    1. Phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế về kế toán và công bố thông tin.
    2. Phù hợp với xu thế phát triển của các CTCP niêm yết tại Việt Nam.
    3. Phù hợp với nhu cầu thông tin thực tế của các đối tượng sử dụng.
    4. Phù hợp với đường lối và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
  • Hệ thống các giải pháp hoàn thiện:
    • Hoàn thiện hình thức: Chuẩn hóa quy cách trình bày, quy định thống nhất thứ tự các danh mục, tài liệu trong BCTN nhằm tạo thuận lợi cho việc tra cứu và so sánh giữa các doanh nghiệp.
    • Hoàn thiện số lượng báo cáo bộ phận: Đề xuất bổ sung Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu (Bảng 3.3) thành một báo cáo bộ phận chính thức trong BCTN để theo dõi chi tiết biến động thặng dư vốn, cổ phiếu quỹ, quỹ doanh nghiệp và lợi nhuận chưa phân phối.
    • Hoàn thiện nội dung báo cáo: Tách bạch rõ ràng chức năng báo cáo giữa HĐQT và BGĐ nhằm triệt tiêu sự trùng lặp số liệu; bổ sung thông tin phi tài chính về trách nhiệm xã hội, quản trị môi trường, chính sách đối với người lao động (Bảng 3.4, Hình 3.3); nghiên cứu cơ chế kiểm toán hoặc kiểm tra tính xác thực đối với thông tin phi tài chính (Bảng 3.5).
    • Hoàn thiện chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phân tích: Bắt buộc công bố bảng tổng hợp chuỗi số liệu tài chính liên tục từ 5 đến 10 năm; chuẩn hóa công thức tính toán và công bố các hệ số sinh lời (ROA, ROE), hệ số thanh toán, chỉ số đòn bẩy tài chính.
    • Hoàn thiện thời gian và cách thức công bố: Rút ngắn khoảng cách thời gian giữa việc công bố BCTC kiểm toán và nộp BCTN; chuẩn hóa định dạng dữ liệu điện tử trên cổng thông tin của UBCKNN và các Sở GDCK.
    • Mô hình Báo cáo thường niên đề xuất (Bảng 3.6): Luận án thiết kế mẫu cấu trúc BCTN chuẩn hóa phục vụ áp dụng thực tế.
  • Điều kiện thực hiện giải pháp:
    • Về phía Nhà nước: Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp quy (sửa đổi Thông tư 09/2010/TT-BTC); tăng cường chế tài giám sát và xử phạt vi phạm nghĩa vụ công bố thông tin của UBCKNN và các Sở GDCK.
    • Về phía công ty cổ phần niêm yết: Nâng cao nhận thức của ban lãnh đạo về vai trò của BCTN; chuẩn hóa hệ thống kế toán quản trị nội bộ; đào tạo chuyên môn cho đội ngũ lập báo cáo.

Bảng tổng hợp hệ thống bảng số liệu và sơ đồ trong luận án

Luận án sử dụng hệ thống bảng biểu và sơ đồ thống kê chi tiết phản ánh các phân tích thực trạng và giải pháp:

Ký hiệu Tên bảng / hình trong luận án Nội dung số liệu / dữ kiện phản ánh
Bảng 1.1 So sánh quy định về công bố thông tin trong BCTN giữa Trung Quốc đại lục và Hồng Kông Đối chiếu các tiêu chí pháp lý và chỉ tiêu bắt buộc giữa hai thị trường.
Bảng 2.1 Mẫu "Báo cáo thường niên" Cấu trúc BCTN theo quy định tại Thông tư số 09/2010/TT-BTC.
Bảng 2.2 Thứ tự sắp xếp các tài liệu trong BCTN 2010 của một số CTCP niêm yết Phân tích tính thiếu nhất quán trong kết cấu BCTN của 40 doanh nghiệp mẫu.
Bảng 2.3 & Hình 2.8 Đánh giá về hình thức BCTN & Mức độ đồng ý quy định khuôn mẫu BCTN Tỷ lệ phần trăm ý kiến khảo sát ủng hộ việc chuẩn hóa hình thức và khuôn mẫu.
Bảng 2.4 - 2.7 & Hình 2.9, 2.10 Mức độ quan tâm và sự cần thiết của các báo cáo bộ phận Thống kê ý kiến về BCTC, Báo cáo kiểm toán, Báo cáo HĐQT và Báo cáo BGĐ.
Bảng 2.8 - 2.12 & Hình 2.11 - 2.13 Nội dung không cần thiết và trùng lặp trong báo cáo của HĐQT và BGĐ Tỷ lệ đánh giá sự trùng lặp thông tin kinh doanh giữa hai báo cáo theo Thông tư 09.
Bảng 2.13 & Hình 2.14 Đánh giá về mức độ khó khăn khi sử dụng BCTN Tần số và tỷ lệ phản hồi về những trở ngại gặp phải khi tiếp cận BCTN.
Bảng 2.14, 2.15 & Hình 2.15, 2.16 Mức độ quan tâm đến chỉ tiêu tài chính và chỉ tiêu phân tích trong BCTN Mức độ ưu tiên của nhà đầu tư và chuyên gia đối với nhóm chỉ tiêu ROA, ROE, EPS.
Bảng 2.16 & Hình 2.17 Đánh giá về thời gian và kênh thông tin BCTN được biết đến Thống kê tình trạng chậm nộp báo cáo và các kênh truyền tải thông tin thực tế.
Bảng 3.1, 3.2 & Hình 3.1, 3.2 Mức độ ảnh hưởng của BCTN đến nhà đầu tư và chuyên gia Đánh giá mức độ tác động của thông tin BCTN đến quyết định phân bổ vốn.
Bảng 3.3 Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu Cấu trúc biểu mẫu đề xuất bổ sung vào hệ thống báo cáo bộ phận của BCTN.
Bảng 3.4, 3.5 & Hình 3.3 Mức độ đồng ý bổ sung thông tin & Đánh giá sự cần thiết kiểm toán thông tin phi tài chính Tỷ lệ đồng thuận đối với việc bổ sung dữ liệu xã hội, môi trường và xác thực thông tin.
Bảng 3.6 Báo cáo thường niên đề xuất Khuôn mẫu kết cấu hoàn chỉnh đề xuất cho các CTCP niêm yết tại Việt Nam.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt học thuật và lý luận

  • Luận án là công trình nghiên cứu toàn diện đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận BCTN dưới giác độ là một hệ thống báo cáo độc lập, có mối quan hệ tương hỗ với hệ thống BCTC.
  • Phân định rõ ràng bản chất giữa BCTC và BCTN: khẳng định BCTN mang bản chất của một báo cáo giải trình và phân tích toàn diện, trong đó BCTC đóng vai trò là một báo cáo bộ phận trọng yếu. BCTN tích hợp thông tin tài chính đã qua kiểm toán với các thông tin phi tài chính hướng tới tương lai.
  • Hệ thống hóa 5 nhóm nhân tố chi phối quá trình xây dựng hệ thống BCTN của mỗi quốc gia, làm rõ đặc thù của các CTCP niêm yết trên TTCK tác động trực tiếp đến yêu cầu công bố thông tin.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Khảo sát và chỉ rõ những tồn tại cơ bản của hệ thống BCTN tại các CTCP niêm yết Việt Nam giai đoạn 2007 - 2010 qua xử lý số liệu khảo sát thực tế trên phần mềm SPSS 18:
    • Cấu trúc BCTN thiếu thống nhất giữa các doanh nghiệp.
    • Tồn tại sự trùng lặp lớn giữa nội dung báo cáo của HĐQT và báo cáo của BGĐ.
    • Thiếu hụt các chỉ tiêu tài chính so sánh chuỗi nhiều năm và các chỉ số phân tích hiệu quả hoạt động (ROA, ROE).
    • Tình trạng công bố BCTN chậm trễ so với quy định của Thông tư 09/2010/TT-BTC.
  • Xây dựng hệ thống 5 nhóm giải pháp hoàn thiện: hoàn thiện hình thức; bổ sung báo cáo bộ phận (Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu); hoàn thiện nội dung (tách bạch báo cáo HĐQT và BGĐ, bổ sung trách nhiệm xã hội); chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu tài chính và phân tích chuỗi 5 - 10 năm; hoàn thiện thời gian và phương thức công bố.
  • Thiết kế hoàn chỉnh Mô hình mẫu BCTN đề xuất (Bảng 3.6), làm tài liệu tham khảo cho cơ quan quản lý và các công ty niêm yết.
  • Đề xuất các điều kiện thực thi cụ thể đối với Bộ Tài chính, UBCKNN và các CTCP niêm yết nhằm đưa các giải pháp vào thực tế quản lý.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Về dung lượng mẫu nghiên cứu: Phần phân tích thực trạng văn bản BCTN của luận án được thực hiện trên mẫu 40 BCTN của các CTCP niêm yết trong giai đoạn 2007 - 2010. Mặc dù mẫu đã được phân tầng theo quy mô vốn điều lệ và tiêu chí đạt giải bình chọn BCTN, quy mô 40 công ty còn khiêm tốn so với tổng thể gần 600 doanh nghiệp niêm yết trên cả hai sàn giao dịch tại thời điểm nghiên cứu.
  • Về bối cảnh pháp lý: Toàn bộ khảo sát và đề xuất của luận án được xây dựng dựa trên cơ sở pháp lý của Luật Chứng khoán 2006, Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Kế toán 2003 và Thông tư 09/2010/TT-BTC. Do đó, các kết quả nghiên cứu gắn liền với hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) và khung pháp lý giai đoạn 2010 - 2012, chưa bao quát các thay đổi pháp lý sau này.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng phạm vi và cỡ mẫu khảo sát đối với toàn bộ các doanh nghiệp niêm yết trên cả hai Sở Giao dịch Chứng khoán HOSE và HNX.
    • Nghiên cứu cơ chế kiểm toán độc lập bắt buộc hoặc soát xét chuyên môn đối với các thông tin phi tài chính trong BCTN.
    • Nghiên cứu tích hợp báo cáo phát triển bền vững, báo cáo trách nhiệm xã hội và môi trường vào BCTN theo lộ trình hội nhập chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS).

Giá trị tham khảo

  • Đối với các cơ quan quản lý Nhà nước (Bộ Tài chính, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước): Luận án cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn để rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về công bố thông tin trên thị trường chứng khoán (như Thông tư 09/2010/TT-BTC); chuẩn hóa mẫu BCTN bắt buộc áp dụng thống nhất cho các tổ chức niêm yết.
  • Đối với các công ty cổ phần niêm yết: Mẫu BCTN đề xuất (Bảng 3.6) cùng các hướng dẫn hoàn thiện nội dung là tài liệu thực tế giúp ban điều hành và bộ phận kế toán xây dựng cấu trúc BCTN khoa học, loại bỏ các nội dung trùng lặp giữa HĐQT và BGĐ, nâng cao chất lượng minh bạch thông tin nhằm củng cố niềm tin của nhà đầu tư và thu hút vốn.
  • Đối với các nhà đầu tư và chuyên gia phân tích: Luận án giúp người sử dụng thông tin hiểu rõ cấu trúc, nhận diện các điểm yếu về tính minh bạch của BCTN hiện hành, từ đó có phương pháp chọn lọc và đối chiếu số liệu tài chính - phi tài chính một cách chuẩn xác.
  • Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán: Cung cấp tài liệu tham khảo chuyên khảo về mặt lý luận hệ thống báo cáo doanh nghiệp, phương pháp luận kết hợp phân tích văn bản với khảo sát thực nghiệm xử lý bằng phần mềm SPSS.

Câu hỏi thường gặp

1. Điểm khác biệt căn bản giữa Báo cáo thường niên (BCTN) và Báo cáo tài chính (BCTC) theo quan điểm của luận án là gì?
BCTC là hệ thống báo cáo phản ánh tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và các luồng tiền theo các chuẩn mực và chế độ kế toán quy định mang tính pháp lý nghiêm ngặt. Trong khi đó, BCTN là một tài liệu tổng hợp có phạm vi rộng hơn nhiều, trong đó BCTC chỉ là một báo cáo bộ phận cấu thành. BCTN cung cấp thêm khối lượng lớn các thông tin phi tài chính (tuyên bố sứ mệnh, thông điệp lãnh đạo, chiến lược tương lai, trách nhiệm xã hội) và các phân tích, giải trình chuyên sâu của ban quản trị về hoạt động của doanh nghiệp.

2. Mẫu khảo sát định lượng trong luận án được lựa chọn dựa trên những tiêu chí nào?
Mẫu gồm 40 BCTN của các CTCP niêm yết giai đoạn 2007 - 2010 được lựa chọn theo 2 tiêu chí cụ thể: (1) Các BCTN đạt giải thưởng trong cuộc thi bình chọn BCTN hàng năm; (2) Phân nhóm theo quy mô vốn điều lệ của công ty niêm yết theo ba cấp độ: quy mô lớn, quy mô trung bình và quy mô nhỏ.

3. Khảo sát thực tế trong luận án đã chỉ ra bất cập lớn nhất nào giữa báo cáo của Hội đồng quản trị và báo cáo của Ban Giám đốc?
Bất cập lớn nhất là sự trùng lặp nội dung nghiêm trọng giữa hai báo cáo (được thể hiện qua Bảng 2.11 và Bảng 2.12). Cả HĐQT và BGĐ đều trình bày lại các số liệu kết quả sản xuất kinh doanh (doanh thu, lợi nhuận), thiếu sự phân định rõ ràng giữa chức năng quản trị, định hướng chiến lược (thuộc về HĐQT) và chức năng điều hành tác nghiệp cụ thể (thuộc về BGĐ).

4. Luận án đề xuất bổ sung báo cáo bộ phận nào vào hệ thống BCTN?
Luận án đề xuất bổ sung chính thức Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu (Bảng 3.3) thành một báo cáo bộ phận trong BCTN nhằm phản ánh chi tiết sự biến động tăng, giảm của từng khoản mục thuộc nguồn vốn chủ sở hữu trong năm tài chính.

5. Luận án đã xác định những nhân tố cơ bản nào ảnh hưởng đến hệ thống BCTN?
Luận án xác định 5 nhóm nhân tố cơ bản bao gồm: sự phát triển của nền kinh tế; hệ thống luật pháp (đặc biệt là sự khác biệt giữa Thông luật và Điển chế luật); nguồn cung cấp tài chính chủ yếu của thị trường; đặc điểm văn hóa, giáo dục của quốc gia; và xu hướng hội nhập với hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Tú Oanh là công trình nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống báo cáo thường niên của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Thông qua việc phân định bản chất lý luận giữa BCTN và BCTC, kết hợp khảo sát thực nghiệm 40 BCTN mẫu và điều tra ý kiến các bên liên quan bằng phần mềm SPSS 18, luận án đã làm rõ các hạn chế về cấu trúc, nội dung trùng lặp và tính chậm trễ trong công bố thông tin. Hệ thống 5 nhóm giải pháp hoàn thiện cùng Mẫu BCTN đề xuất mang tính ứng dụng thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học cho cơ quan quản lý Nhà nước trong việc hoàn thiện thể chế và giúp các doanh nghiệp niêm yết nâng cao tính minh bạch thông tin phục vụ thị trường vốn.