CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN TRONG CÁC CÔNG TY CỔ PHẦN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN 1. Báo cáo thường niên và mối quan hệ giữa báo cáo thường niên với báo cáo tài chính 1. Bản chất và vai trò của báo cáo thường niên BCTC giữ vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin về hoạt ñộng kinh doanh của doanh nghiệp. Song, BCTC mới chỉ là nhân tố chủ yếu trong hệ thống báo cáo kế toán của DN, chưa phải là sản phẩm ñầy ñủ.
Nhiều thông tin mà ñối tượng quan tâm ñến tình hình tài chính của DN cần tìm kiếm nhưng không có trong BCTC như chiến lược kinh doanh, các giải trình của BGð, Chủ tịch HðQT và các ñánh giá chuyên gia kế toán… Những thông tin phi tài chính này sẽ trở thành các yếu tố quan trọng cho người sử dụng báo cáo kế toán của DN. Chính BCTN ñã góp phần cung cấp bổ sung các thông tin về DN. Quy ñịnh về BCTN xuất hiện sớm nhất tại Mỹ. Sự sụp ñổ của TTCK Mỹ vào năm 1929 dẫn ñến nhu cầu cần phải có quy ñịnh về BCTC DN ngày càng tăng.
Nhiều người cho rằng, một trong những nguyên nhân gây ra sự sụp ñổ này là do thông tin về các hoạt ñộng của công ty chưa ñược cung cấp ñầy ñủ [59, tr. ðể ñáp ứng những yêu cầu này, Quốc hội Mỹ thông qua ðạo luật Chứng khoán năm 1933, yêu cầu các DN phải công bố các BCTC bao gồm Bảng cân ñối kế toán (BCðKT) và Báo cáo kết quả kinh doanh (BCKQKD) trước khi bán cổ phiếu. Tiếp theo ðạo luật này, luật về GDCK năm 1934 ñã quy ñịnh cụ thể về BCTN là báo cáo bắt buộc các CTCP phải công bố cho các cổ ñông. Báo cáo này tuân thủ theo mẫu 10-K, ñặc biệt phải có thêm báo cáo của kiểm toán.
Tiếp theo Mỹ, nhiều quốc gia khác cũng ban hành quy ñịnh về công bố thông tin qua BCTN. Theo luật DN năm 1985 và 1989 của Anh, các thông tin giải trình trong báo cáo của BGð là yêu cầu bắt buộc phải nêu trong BCTN, trong ñó phải thể hiện rõ các hoạt ñộng cơ bản của DN, tóm tắt các hoạt ñộng kinh doanh trong năm 12 báo cáo [51, tr. Luật Tập ñoàn của Úc năm 1991 cũng quy ñịnh bắt buộc các DN phải lập BCTN cuối năm tài chính, bao gồm báo cáo tài chính, báo cáo của BGð và báo cáo kiểm toán [52, tr. Theo từ ñiển Tài chính và ðầu tư, “BCTN (annual report) là một báo cáo tổng hợp về hoạt ñộng của một DN trong năm tài chính ñã qua, nhằm cung cấp cho cổ ñông và những người quan tâm các thông tin về hoạt ñộng kinh doanh và tình hình tài chính của DN” [67].
Việc lập và công bố các BCTN thường ñược quy ñịnh bắt buộc bởi các ñiều luật của từng quốc gia. Riêng ñối với các công ty niêm yết trên TTCK, BCTN phải lập thường xuyên hơn, tùy theo quy ñịnh của TTCK niêm yết. Với cách hiểu này, BCTN và BCTC năm của DN chưa có sự khác biệt rõ ràng, vì ñều là những báo cáo về tình hình hoạt ñộng kinh doanh và tình hình tài chính của DN trong thời gian một năm. Cùng với quan ñiểm BCTN cung cấp các thông tin tài chính, tác giả John Stittle cho rằng BCTN của một DN là bản BCTC mang tính tường thuật về hoạt ñộng kinh doanh của một DN trong thời gian 12 tháng ñã qua, thường ñược lập vào cuối năm.
Báo cáo này bao gồm nhiều phần và nội dung của nó chủ yếu ñược quy ñịnh bởi pháp luật, quy ñịnh kế toán và các quy ñịnh TTCK. ðặc biệt, một phần quan trọng trong BCTN của DN là BCTC với các báo cáo cơ bản: BCðKT, BCKQKD, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (BCLCTT) [51, tr. Tuy nhiên, những thông tin diễn giải cần thiết ñể giúp BCTN dễ hiểu hơn với các ñối tượng sử dụng lại chưa ñược tác giả ñề cập. Thay vào ñó, theo quan ñiểm này, thông tin BCTN còn nặng về BCTC và còn bị trùng lắp nhiều với BCTC.
Ngoài quan ñiểm BCTN cung cấp thông tin tài chính, nhiều trường phái, quan ñiểm khác ñề cập ñến BCTN với vai trò cung cấp các thông tin phi tài chính. ðại diện cho nhóm quan ñiểm này là tác giả Brian Stanko và Thomas Zeller. BCTN của DN là tài liệu bao gồm các thông tin ñịnh lượng và không ñịnh lượng ñược, do các nhà quản lý DN chuẩn bị ñể cung cấp cho cổ ñông và những người quan tâm. BCTN thường cho thấy tiềm lực, khả năng phát triển của một DN.
BCTN thường bao gồm tuyên bố về sứ mệnh, thông ñiệp của nhà lãnh ñạo, thông tin về sản phẩm và dịch vụ, giải trình của nhà quản trị về tình hình tài chính của DN, so sánh thông tin tài chính, báo cáo 13 kiểm toán và thông tin về các nhà ñầu tư chính. Nhìn chung, BCTN nhằm ñáp ứng nhu cầu của ña dạng các ñối tượng sử dụng thông tin về DN [41]. Các tác giả Ken Leo và John Hoggett cũng ñồng tình với nhận ñịnh này khi cho rằng: BCTN là báo cáo bao gồm BCTC, các thuyết minh BCTC cho một năm hoạt ñộng cùng với báo cáo giải trình của BGð về BCTC và các thuyết minh ñó [52, tr. Với cách tiếp cận này, BCTN ñã rộng mở hơn về phạm vi, bởi các thông tin ñịnh lượng và không ñịnh lượng ñược.
Bên cạnh việc cung cấp các thông tin về hoạt ñộng tài chính, BCTN ñã bao gồm nhiều nội dung diễn giải thông qua các báo cáo giải trình của nhà quản trị nhằm làm rõ hơn các thông tin về DN phục vụ cho ña dạng ñối tượng sử dụng. Quan ñiểm này cũng chưa thể hiện ñúng bản chất của BCTN là báo cáo diễn giải. Không những vậy, BCTN còn ñóng vai trò cung cấp thông tin hướng tới tương lai và là công cụ quảng bá hình ảnh cho doanh nghiệp. Khác với hai quan ñiểm trên, một trường phái quan ñiểm khác nhấn mạnh ñến việc cung cấp thông tin hướng tới tương lai của BCTN.
Ngoài các quan ñiểm BCTN cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính của DN trong năm tài chính ñã qua, nhiều tác giả còn cho rằng, BCTN còn cung cấp thông tin hướng tới tương lai như kế hoạch, chiến lược phát triển, các dự án sắp thực hiện… của DN. Steve Albrecht, Earl K. Stice cho rằng: BCTN là một tài liệu tóm tắt các kết quả hoạt ñộng và tình trạng tài chính của một DN cho năm tài chính ñã qua và hoạch ñịnh kế hoạch phát triển trong tương lai [65, tr. ðồng tình với quan ñiểm này, theo các tác giả Clyde P Stickney, Roman L Weil, Katherine Schipper: Các DN phải chuẩn bị BCTN, trong ñó, BCTC là một phần của BCTN.
Ngoài ra, BCTN còn bao gồm các giải thích về các sự kiện quan trọng xảy ra trong năm, các thảo luận và phân tích về kết quả DN ñã ñạt ñược trong năm và hoạch ñịnh chiến lược phát triển trong tương lai của DN [43, tr. Theo các nhận ñịnh này, BCTN ñã cung cấp thêm những thông tin về các chiến lược cũng như kế hoạch phát triển của DN. ðây là những thông tin hữu ích giúp cho nhà ñầu tư và các ñối tượng sử dụng có thêm cơ sở ñưa ra quyết ñịnh. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ nhấn mạnh ñến tương lai mà chưa khai thác BCTN như công cụ truyền thông của DN.
14 Xét theo quan ñiểm BCTN là công cụ truyền thông của doanh nghiệp, nhiều tác giả cũng có sự ñồng thuận với nhận ñịnh này. Theo tác giả Macro Mongiello, BCTN là một ấn phẩm ñáp ứng các yêu cầu quy ñịnh về báo cáo hoạt ñộng và tình trạng tài chính của thực thể báo cáo và thêm vào ñó, nó còn ñược sử dụng cho mục ñích truyền thông của DN [54, tr. Thomsett cũng thể hiện rõ quan ñiểm này “khi xem xét về BCTN, hai loại thông tin cơ bản là thông tin về tình hình tài chính của DN và thông tin tiếp thị, quảng bá với công chúng” [58, tr. Với nhận ñịnh này, BCTN sẽ rất ña dạng giữa các DN.
Ngoài những nội dung bắt buộc theo quy ñịnh của từng quốc gia, với mục ñích truyền thông, BCTN sẽ thực sự khác biệt giữa các DN trong việc truyền tải hình ảnh của mình ñến công chúng. Tuy nhiên, nhận ñịnh này lại chưa cung cấp ñủ và phát huy hiệu quả của BCTN, chưa tập trung vào phân tích, diễn giải các thông tin tài chính và phi tài chính của DN. Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng: BCTN là báo cáo phản ánh, ñánh giá, phân tích tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của DN sau một quá trình hoạt ñộng, ñặc biệt là năm báo cáo. Cùng với các thông tin ñịnh lượng phản ánh tình hình tài chính và kết quả kinh doanh, BCTN còn bao gồm rất nhiều các thông tin không ñịnh lượng ñược như tuyên bố về sứ mệnh của DN, chiến lược phát triển, thông tin về sản phẩm, dịch vụ của DN, các giải trình của nhà quản trị, báo cáo kiểm toán,… làm cho người sử dụng rõ hơn về hoạt ñộng cũng như các chiến lược kinh doanh của DN.
Ngoài ra, BCTN còn là công cụ hữu hiệu trong giới thiệu, quảng bá hình ảnh của DN. Với mục ñích cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính chủ yếu cho các ñối tượng sử dụng bên ngoài, BCTN có vai trò rất quan trọng trong việc quảng bá và củng cố hình ảnh của DN, tạo lòng tin cho các nhà ñầu tư, các ñối tác và công chúng… Chính vì vậy, có thể nói, ñối với các công ty niêm yết, BCTN ñặc biệt quan trọng và không thể thiếu ñược. Vai trò của BCTN thể hiện qua việc cung cấp các thông tin tài chính và các thông tin diễn giải tin cậy về DN. Có thể khái quát vai trò của BCTN trên những ñiểm chủ yếu sau: 15 - Cung cấp các thông tin ñịnh hướng phát triển của DN: BCTN như một “tiếng kèn” biểu dương thành tích, thị phần, các kết quả và nỗ lực mà DN ñã ñạt ñược trong năm tài chính ñã qua.
Nhiều thông tin nổi bật, thường nằm ở các trang ñầu của báo cáo, dành cho các thảo luận về thị trường và chiến lược marketing của DN như ñịnh hướng thị trường mà DN ñang hướng tới, sản phẩm DN sắp sản xuất, dự án DN chuẩn bị triển khai. ðây là phần thông tin rất hữu ích mà các nhà ñầu tư rất quan tâm trong BCTN. - Cung cấp thông tin tài chính tin cậy: BCTN phải tuân thủ theo các quy ñịnh của nhà nước. Do vậy, các DN phải có BCTC ñược kiểm toán phù hợp với quy ñịnh của từng quốc gia.