CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÔNG TÁC GIÁM SÁT CHẤT LƯỢNG THI CÔNG CÔNG TRÌNH KÈ BẢO VỆ ĐÊ SÔNG 1.1 Khái quát chung các loại kè đê sông.1 Các loại kè đê sông. Ngoài hệ thống đê để bảo vệ các vùng lãnh thổ khỏi bị ngập nước lũ và thủy triều thì các công trình bảo vệ bờ cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc bảo vệ các khu dân cư và kinh tế. Đặc biệt trong thời gian gần đây, do tác động của các biến đổi khí hậu toàn cầu, các quy luật về sóng gió, dòng chảy, bùn cát… cũng có những biến động bất lợi hơn, đe dọa đến an toàn của các khu dân cư và kinh tế rộng lớn dọc các bờ sông, bờ biển. Từ thực tế các trận lũ lụt mưa bão trong những năm gần đây, nhiều nơi xảy ra tình trạng khai thác cát trái phép cho thấy có những đoạn bờ sông, bờ biển đã ổn định nhiều năm, nay lại phải trải qua những diễn biến phức tạp do dòng sông đổi dòng, biển lấn vào đất liền… Điều này đòi hỏi công tác thiết kế các công trình bảo vệ bờ cần bổ xung các điều kiện mới trong tính toán, đồng thời cần phải xây dựng các quy hoạch tổng thể về bảo vệ bờ sông, bờ biển trong từng khu vực rộng lớn.
Công trình bảo vệ bờ sông chịu tác động chủ yếu từ các dòng chảy trong sông, đặc biệt vào mùa lũ. Các công trình bảo vệ bờ sông được xây dựng để bảo vệ bờ bãi khỏi bị xói lở, biến dạng do dòng chảy mặt, và để lái dòng chảy mặt hay dòng chảy bùn cát đi theo những hướng xác định theo mục đích chỉnh trị sông. Công trình bảo vệ sông bao gồm: - Các kè bảo vệ mái, - Các đập mỏ hàn để lái dòng chảy trong sông đi theo hướng xác định. - Các mỏ hàn mềm được làm bằng phên và cọc hay bãi cây chìm để điều khiển bùn cát đáy, gây bồi, chống xói bờ và chân dốc.
- Các hệ thống lái dòng đặc biệt ( ví dụ hệ thống lái dòng Potapon) để hướng dòng chảy mặt vào cửa lấy nước, xói trôi bãi bồi, bảo vệ các đoạn bờ xung yếu… 3 Đối với kè bảo vệ mái dốc theo hình thức kết cấu và vật liệu sử dụng, kè bảo vệ mái dốc có nhiều loại khác nhau. Mỗi loại đều có 3 phần chính. Các phần đó là chân kè, thân kè và đỉnh kè. Chân kè làm nhiệm vụ chống xói ở chân mái dốc, thân kè là phần bảo vệ mái dốc từ chân đến đỉnh, đỉnh kè là phần bảo vệ đỉnh mái dốc.
Từng phần theo từng điều kiện cụ thể có cấu tạo chi tiết để đảm bảo điều kiện ổn định trong quá trình chịu tác dụng của các tải trọng từ phía sông và từ phía phần đất thân đê hoặc bờ. Kè bằng đá hộc lát khan, thả đá rời hộ chân, mái khung dầm bê tông lát mái đá. Kè bằng bê tông đúc sẵn. Chân kè bằng cọc, kết hợp với lăng trụ đá, Tường đỉnh kè bằng bê tông cốt thép.
Kè kết hợp hai loại vật liệu, chân kè là đá hộc trong ống bê tông, tường đỉnh bằng đá xây. Kè bảo vệ mái dốc là một bộ phận quan trọng để duy trì ổn định cho sông và bờ. Nó chiếm một tỷ lệ kinh phí đáng kể trong các dự án đê điều và bảo vệ bờ. Mặt khác sự làm việc của kết cấu này tương đối phức tạp, còn nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu cải tiến các hình thức kết cấu nhằm hoàn thiện phương pháp tính toán thiết kế thi công nhằm đảm bảo an toàn, tăng tính hiệu quả kinh tế, chất lượng công trình kè bảo vệ mái dốc nói riêng và cho đê và bờ nói chung.2 Các sự cố kè đê sông.
Sự khắc nghiệt của khí hậu và môi trường ngày càng có xu hướng tăng lên và đang phá vỡ những quy luật tồn tại nhiều năm qua. Xuất hiện nhiều cơn bão mạnh, thời tiết cực đoan, mưa trái mùa mực nước sông lên nhanh, kết hợp với việc xả lũ dẫn đến bờ bãi sông thường xuyên phải đối mặt gây sạt lở bờ bãi và các công trình hộ bờ. Các sự cố thường gặp như: Sạt lở bờ bãi, lún sụt mái lát đá, sạt trượt sâu toàn bộ khung dầm, mái đá. Nguyên nhân do bờ bãi đất phù xa, thành vách dựng gặp phải sóng vỗ, nước to rút nhanh mang theo cốt đất ra ngoài dẫn đến sạt sụt bờ bãi và công trình kè.
Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân trong đó vấn đề về thi công công trình kè chưa đảm bảo chất lượng dẫn đến hỏng hóc cũng là một trong những nguyên nhân cần phải xem xét nghiêm túc, để có những giải pháp giúp công trình đầu tư được hiệu quả. 4 Sau đây là một số hình ảnh các sự cố sạt lở bãi bờ và các công trình kè thường gặp.1: Hình ảnh sạt lở bờ bãi sông gần khu dân cư Nguyên nhân dẫn đến sạt lở bãi sông là do tác dụng của dòng chảy, xói chân, nhiều nơi xảy ra tình trạng hút cát trái phép khiến lòng sông thay đổi mạnh, sạt lở sâu vào bãi canh tác của bà con nhân dân. Khu vực đất yếu sạt sụt tạo thành cung trượt nếu không được xử lý chống sạt lở thì diện tích bãi sẽ bị sạt sụt rất nhanh.2: Hình ảnh sạt lở đất gần khu dân sinh Trên đây là hình ảnh sạt lở bờ sông ven khu dân cư, hình ảnh cũng cho thấy sự nguy hiểm đến tính mạng của nhân dân. Nguyên nhân do tình hình mưa lũ kéo dài cộng với tình trạng hút cát làm thay đổi dòng chảy dẫn đến sạt lở nghiêm trọng sâu vào trong đất liền Hình 1.3: Hình ảnh sụt lún mái lát tấm bê tông Hình 1.4: Hình ảnh sạt lở mái, khung dầm kè.5: Hình ảnh sụt lún mái lát đá.6: Hình ảnh sụt lún phần cơ kè.
Trên đây là hình ảnh nún sụt tại Km 31+500 kè Hoài Thượng huyện Thuận Thành Bắc Ninh. Nguyên nhân do mưa lũ lớn, mặt cắt lòng sông thu hẹp lưu tốc lớn, một phần nguyên nhân do nền đất yếu.7: Cung sạt trượt mái kè 1.2 Chất lượng và quản lý chất lượng.1 Quan niệm về chất lượng. Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các qui định trong văn bản qui phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế. Chất lượng công trình xây dựng không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh tế.
Ví dụ: một công trình quá an toàn, quá chắc chắn nhưng không phù hợp với quy hoạch, kiến trúc, gây những ảnh hưởng bất lợi cho cộng đồng (an ninh, an toàn môi trường…), không kinh tế thì cũng không thoả mãn yêu cầu về chất lượng công trình. Có được chất lượng công trình xây dựng như mong muốn, có nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong đó có yếu tố cơ bản nhất là năng lực quản lý (của chính quyền, của chủ đầu tư) và năng lực của các nhà thầu tham gia các quá trình hình thành sản phẩm xây dựng.2 Quan niệm về quản lý chất lượng. Chất lượng không tự nhiên sinh ra, nó là kết quả của sự tác động hàng loạt yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau. Muốn đạt được chất lượng mong muốn cần phải quản lý một cách đúng đắn các yếu tố này.
Quản lý chất lượng là một khía cạnh của chức năng quản lý để xác định và thực hiện chính sách chất lượng. Hoạt động quản lý trong lĩnh vực chất lượng được gọi là quản lý chất lượng. Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO 9000 cho rằng: quản lý chất lượng là một hoạt động có chức năng quản lý chung nhằm mục đích đề ra chính sách, mục tiêu, trách nhiệm và thực hiện chúng bằng các biện pháp như hoạch định chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệ thống chất lượng. Như vậy, tuy còn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý chất lượng, song nhìn chung thì chúng có những điểm giống nhau như sau: Mục tiêu trực tiếp của quản lý chất lượng là đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng phù hợp với nhu cầu thị trường với chi phí tối ưu; Thực chất của quản lý chất lượng là tổng hợp các hoạt động của chức năng quản lý như: hoạch đinh, tổ chức, kiểm soát và điều chỉnh.
Nói cách khác, quản lý chất lượng chính là chất lượng của quản lý; Quản lý chất lượng là hệ thống các hoạt động, các biện pháp ( Hành chính, tổ chức, kinh tế, kỹ thuật, xã hội). Quản lý chất lượng là nhiệm vụ của tất cả mọi người, mọi thành viên trong xã hội, trong doanh nghiệp, là trách nhiệm của tất cả các cấp, nhưng phải được lãnh đạo cao nhất chỉ đạo.3 Các phương pháp quản lý chất lượng - Kiểm tra chất lượng (Quality Inspection) với mục tiêu để sàng lọc các sản phẩm không phù hợp, không đáp ứng yêu cầu, có chất lượng kém ra khỏi các sản phẩm phù hợp, đáp ứng yêu cầu, có chất lượng tốt. Mục đích là chỉ có sản phẩm đảm bảo yêu cầu đến tay khách hàng. Kiểm soát chất lượng toàn diện (Total quality Control) với mục tiêu kiểm soát tất cả 9 các quá trình tác động đến chất lượng kể cả quá trình xảy ra trước và sau quá trình sản xuất sản phẩm như khảo sát thị trường, nghiên cứu, lập kế hoạch, phát triển thiết kế và mua hàng, lưu kho, vận chuyển, phân phối bán hàng và dịch vụ sau bán hàng.
Kiểm soát chất lượng (Quality Control) với mục tiêu ngăn ngừa việc tạo ra, sản xuất các sản phẩm khuyết tật. Để làm được điều này, phải kiểm soát các yếu tố như con người, biện pháp sản xuất tạo ra sản phẩm (Như dây truyền công nghệ…), các đầu vào (Như nguyên vật liệu…) công cụ sản xuất (như trang thiết bị công nghệ…) và yếu tố môi trường (như địa điểm sản xuất…). Quản lý chất lượng toàn diện (Total Quality Management) với mục tiêu là cải tiến chất lượng sản phẩm, thỏa mãn khách hàng ở mức độ tốt nhất có thể. Phương pháp này cung cấp một hệ thống toàn diện cho hoạt động quản lý và cải tiến mọi khía cạnh có liên quan đến chất lượng và huy động sự tham gia của tất cả các cấp, của mọi người nhằm đạt được mục tiêu chất lượng đề ra.