Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại các trường cao đẳng nghề công lập Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại Trường Cao đẳng nghề Nghi Sơn Chương 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ tại Trường Cao đẳng nghề Nghi Sơn 4 Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ TẠI CÁC TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG LẬP 1. Cơ sở lý luận về trƣờng cao đẳng nghề 1. Khái niệm trường cao đẳng nghề công lập Trước hết, trường cao đẳng nghề công lập là một đơn vị sự nghiệp công lập nằm trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp quốc gia.
Tại khoản 1 điều 9 Luật viên chức 2010 quy định: "Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước trong các lĩnh vực như: Giáo dục, đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, văn hóa, thể dục thể thao, du lịch, lao động - thương binh và xã hội, thông tin truyền thông và các lĩnh vực sự nghiệp khác được pháp luật quy định." [20] Các đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng cung cấp các dịch vụ công mà khu vực khác không đảm nhận được, đồng thời phục vụ công tác quản lý nhà nước ở nhiều lĩnh vực trong đó có lĩnh vực giáo dục, đào tạo. Nằm trong hệ thống giáo dục nghề nghiệp, các trường cao đẳng nghề công lập cũng là một trong những cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập chịu sự chi phối và quản lý trực tiếp của Nhà nước. Hiện nay các cơ sở giáo dục công lập đang từng bước tự đảm bảo một phần chi thường xuyên để tiến tới tự chủ về mặt tài chính. Trong luật Giáo dục Nghề nghiệp (2014), tại khoản 2a, điều 5 có đưa ra định nghĩa về cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập: "Cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập là cơ sở giáo dục nghề nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất." [21] Như vậy từ định nghĩa nêu trên, chúng ta cũng có thể hiểu khái niệm trường cao đẳng nghề công lập như sau: Trường cao đẳng nghề công lập là cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập thuộc sở hữu Nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất được đào tạo trình độ cao đẳng nghề và thực hiện các nhiệm vụ giáo dục - đào tạo theo quy định của Nhà nước.
Hoạt động đào tạo nghề Đào tạo nghề là hoạt động dạy nghề, học nghề nhằm chuẩn bị những điều kiện cần thiết để mọi người có thể tự tạo việc làm, kiếm việc làm hoặc có cơ hội nâng cao chất lượng của quá trình lao động và thăng tiến trong nghề nghiệp. Đào tạo nghề là một hoạt động thuộc Giáo dục nghề nghiệp. Hoạt động đào tạo nghề được thực hiện thông qua 2 hình thức đó là: đào tạo nghề dài hạn và đào tạo nghề ngắn hạn. - Đào tạo nghề dài hạn được thực hiện dưới hình thức đào tạo mới và đào tạo lại nhằm cung cấp một đội ngũ công nhân kĩ thuật, nhân viên nghiệp vụ lành nghề, đủ khả năng tiếp cận và sử dụng thành thạo các phương tiện kĩ thuật và công nghệ hiện đại, đáp ứng nguồn nhân lực có kĩ thuật cho các khu công nghiệp, khu chế xuất, xuất khẩu lao động.
- Đào tạo nghề ngắn hạn là hình thức tổ chức dạy nghề có thời hạn ngắn (tường dưới 12 tháng). Hình thức này tổ chức theo lớp học: vừa học lý thuyết vừa thực hành đi đôi với nhau; dạy nghề theo hình thức kèm cặp tại xưởng hoặc tại nơi sản xuất, chủ yếu rèn luyện kỹ năng thực hành nghề; chuyển giao công nghệ, truyền lại cho người học nghề những công nghệ mới, bí quyết công nghệ được sử dụng trong quá trình sản xuất để tạo ra sản phẩm hoàn chỉnh nhằm tạo cơ hội cho người lao động tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm. Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình dạy nghề và học nghề: - Dạy nghề: đây là quá trình mà giảng viên dùng kiến thức và năng lực của bản thân đã tích lũy được để truyền bá cho người học những kiến thức lý thuyết và thực hành. Học viên lĩnh hội các kiến thức được giảng viên truyền đạt để hình thành kỹ năng, kỹ xảo, thực hành nghề nghiệp thuần thục, thành thành thạo.
- Học nghề: Là quá trình mà học viên tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành được giảng viên truyền đạt, hướng dẫn để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định. Mục tiêu đào tạo nghề Mục tiêu đào tạo nghề được quy định cụ thể tại điều 36, Luật giáo dục năm 2019: "Giáo dục nghề nghiệp nhằm đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học trình độ cao hơn".[22] Mục tiêu cụ thể đối với từng trình độ của GDNN cũng được quy định tại Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 như sau: - Mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp Đào tạo trình độ sơ cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề. - Mục tiêu dạy nghề trình độ trung cấp Đào tạo trình độ trung cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ sơ cấp và thực hiện được một số công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm. - Mục tiêu dạy nghề trình độ cao đẳng Đào tạo trình độ cao đẳng để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm.
Cơ sở dạy nghề cao đẳng gồm: Trường cao đẳng nghề, trường cao đẳng, trường đại học có đăng ký dạy nghề trình độ cao đẳng. Đặc điểm hoạt động của các trường cao đẳng nghề Trước hết, trường CĐN công lập được hiểu là đơn vị dự toán hoạt động, thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao trong từng 7 giai đoạn nhất định bằng nguồn kinh phí NSNN cấp hoặc bằng nguồn kinh phí khác (học phí, lệ phí, kinh phí được tài trợ,…). Các trường CĐN là các đơn vị sự nghiệp công lập có đặc điểm hoạt động giống với các đơn vị sự nghiệp nói chung và cũng có những đặc điểm riêng biệt của một đơn vị sự nghiệp có thu. Các đặc điểm đó là: - Tổ chức bộ máy hoạt động: các trường CĐN công lập do nhà nước (chính quyền trung ương hoặc địa phương) thành lập, chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan chủ quản (Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố).
Cơ cấu tổ chức trường CĐN được thành lập theo quy định của pháp luật bao gồm Hội đồng trường, Ban giám hiệu, các phòng ban chức năng, các khoa, các trung tâm trực thuộc. Các trường CĐN cũng chịu sự quản lý về chuyên môn của Bộ GD&ĐT, cơ quan này sẽ quản lý, giám sát về chương trình đào tạo, việc mở các ngành đào tạo, chỉ tiêu, phương thức tuyển sinh của mỗi trường. - Nguồn kinh phí hoạt động: các trường CĐN công lập do Nhà nước đầu tư, xây dựng và cấp kinh phí hoạt động, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận. Nguồn kinh phí hoạt động của các trường CĐN công lập bao gồm: kinh phí do nhà nước cấp để đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, duy trì hoạt động thường xuyên; nguồn thu từ phí và lệ phí (như học phí, lệ phí thi, tuyển sinh,.
Các nguồn thu này được coi là nguồn thu thuộc NSNN, mức thu học phí và các nguồn thu từ các hoạt động sự nghiệp khác hoặc cung ứng các sản phẩm dịch vụ khác đều phải tuân thủ theo các quy định của nhà nước. Trong tổng nguồn thu của các trường CĐN công lập thì nguồn thu từ NSNN chiếm tỷ trọng lớn nhất. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tự chủ về mặt tài chính của các cơ sở giáo dục công lập trong đó có các trường CĐN công lập. - Cơ chế quản lý tài chính: các trường CĐN công lập được áp dụng cơ chế tự chủ tài chính trong phạm vi nhất định.
Đối với một số các khoản chi, các trường có thể tự quyết định nhưng vẫn phải tuân thủ theo khoản mục chi đã được ấn định bởi các cơ quan cấp trên giao và phân bổ dự toán. Đối với việc sử dụng nguồn tài chính để đầu tư, trích lập các quỹ, chi trả thu nhập tăng 8 thêm cho cán bộ, viên chức, lao động, các trường CĐN được tự quyết định nhưng tùy thuộc vào mức độ tự chủ về tài chính của từng trường. Tuy nhiên, hiện nay mức độ tự chủ về nguồn thu của các trường còn khá hạn chế nên việc trích lập các quỹ, thu nhập tăng thêm cho người lao động chưa được cải thiện đáng kể. Các trường CĐN chỉ được thu học phí không vượt quá mức quy định của nhà nước và không được đưa ra các khoản thu khác không đúng quy định.
Bên cạnh đó, các trường còn phải chấp hành các chính sách ưu đãi của Nhà nước dành cho học viên học nghề nên nguồn thu từ học phí, lệ phí cũng hạn chế. [13],[21] - Mục tiêu đào tạo: Mục tiêu đào tạo của trường CĐN công lập luôn gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ. Từ định hướng phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, dự báo về nhu cầu nguồn nhân lực, tình hình kinh tế - xã hội, các trường CĐN phải đặt ra mục tiêu đào tạo gắn với nhu cầu của xã hội để cung ứng nguồn nhân lực đảm bảo cả về số lượng và chất lượng.