CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG SẢN 1. Khái quát về công sản 1. Khái niệm về tài sản và các quyền về tài sản 1. Khái niệm tài sản Tài sản là một khái niệm quen thuộc với con người.
Tuy nhiên, hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tài sản. Việc hiểu rõ khái niệm tài sản sẽ giúp hoàn thiện hệ thống pháp lý về tài sản cũng như hoạt động quản lý tài sản. Có quan điểm cho rằng: Tài sản là toàn bộ tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt có giá trị do các chủ thể xã hội nắm giữ và chi phối như: toàn bộ các tư liệu vật chất tồn tại trong tự nhiên và do con người tạo ra. Bộ luật dân sự của Tiểu bang Louisiana (Hoa Kỳ) đã dựa vào phân loại tài sản để xác định tài sản như sau: " Tài sản được phân chia thành tài sản chung, công sản và tài sản tư; tài sản hữu hình và tài sản vô hình; động sản và bất động sản.
Điều luật này đã phân loại tài sản theo ba cách dựa trên các căn cứ khác nhau: Thứ nhất, căn cứ vào chủ sở hữu tài sản được chia thành tài sản chung, công sản và tài sản tư; thứ hai, căn cứ vào việc có hay không có đặc tính vật lý, tài sản được chia thành tài sản hữu hình và tài sản vô hình; thứ ba, căn cứ vào đặc tính di dời hay không di dời được của tài sản hữu hình và các quyền được thiết lập trên đó hay không được thiết lập trên đó, tài sản được chia thành động sản và bất động sản. Deluxe Back's Law Dictionary giải nghĩa: Tài sản là một từ được sử dụng chung để chỉ mọi thứ là đối tượng của quyền sở hữu, hoặc hữu hình hoặc vô hình, hoặc bất động sản hoặc động sản. Ta cũng có thể bắt gặp cách định nghĩa tài sản khác mà các luật gia Common Law thường sử dụng như: "Theo định nghĩa rộng về tài sản như một mớ quyền ( a 5 bundle of rights), tài sản là bất kể những gì có khả năng sở hữu, hoặc bởi cá nhân, tập thể hoặc cho lợi ích của người khác". Ở Việt Nam, theo bộ luật dân sự năm 2005: TS bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ.
Hoặc theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nhà xuất bản Bách khoa Hà Nội - 2005, tập 4 trang 32 có viết: "Tài sản: Thuật ngữ kế toán kinh doanh chỉ tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một đơn vị hoặc của Nhà nước, có thể được dùng để trả nợ, sản xuất ra hàng hóa hay tạo ra lợi nhuận bằng cách nào đó. Một tài sản có ba đặc tính không thể thiếu: Lợi nhuận kinh tế có thể xảy ra trong tương lai; do một thực thể hợp pháp kiểm soát; thu được kết quả ngay từ hợp đồng kinh doanh hoặc giao dịch đầu tiên." Như vậy, có thể hiểu khái niệm tài sản trên ba khía cạnh: Một là, tài sản là vật hoặc đối tượng có giá trị. Hai là, tài sản là đối tượng của chủ sở hữu. Ba là, tài sản có thể phân chia thành bốn phân loại lớn: bất động sản hữu hình và động sản hữu hình, bất động sản vô hình và động sản vô hình.
Các quyền về tài sản Hiện nay, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cho rằng: Quyền về tài sản là quan hệ xã hội có nội dung kinh tế. Đó là mối quan hệ về quyền sở hữu tài sản bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Quyền chiếm hữu Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quyền quản lý tài sản, trong đó bao gồm: chiếm hữu có căn cứ pháp luật hoặc chiếm hữu không có pháp luật nhưng ngay tình, chiếm hữu liên tục, chiếm hữu công khai. 6 Chiếm hữu có căn cứ pháp luật là việc chiếm hữu tài sản khi người chiếm hữu tài sản là chủ sở hữu tài sản, hoặc chủ sở hữu uỷ quyền quản lý tài sản, chuyển giao quyền chiếm hữu tài sản thông qua giao dịch dân sự phù hợp với luật pháp cho một người nào đó.
Ngoài ra, pháp luật cũng quy định người phát hiện và giữ tài sản vô chủ, tài sản không xác định được ai là chủ sở hữu; tài sản bị đánh rơi, bị bỏ quên, bị chôn giấu, bị chìm đắm; gia súc, gia cầm, vật nuôi dưới nước bị thất lạc có quyền chiếm hữu tài sản. Người chiếm hữu tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình là người chiếm hữu mà không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật. Ví dụ: B ăn cắp của C chiếc máy bơm nước và đến gửi A. Vậy việc A chiếm hữu chiếc máy bơm nước là chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, vì khi nhận giữ hộ B chiếc máy bơm nước đó A không biết và không thể biết chiếc máy bơm nước đó không thuộc quyền sở hữu của B tức là không biết và không thể biết việc chiếm hữu tài sản đó là không có căn cứ pháp luật.
Chiếm hữu công khai là việc thực hiện chiếm hữu tài sản một cách minh bạch, không giấu giếm; tài sản đang chiếm hữu được sử dụng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu bảo quản, giữ gìn như tài sản của mình. Quy định về chiếm hữu công khai được thể hiện chính là ở việc người chiếm hữu thực hiện các tác động vật chất đối với tài sản một cách minh bạch, không giấu giếm, che đậy một ý đồ khác. Chiếm hữu liên tục là việc thực hiện chiếm hữu tài sản trong một khoảng thời gian mà không có tranh chấp về tài sản, kể cả khi tài sản được giao cho người khác chiếm hữu. Đó là việc chiếm hữu về mặt thực tế và về mặt pháp lý của một chủ thể đối với tài sản trong một khoảng thời gian xác định.
Quyền sử dụng Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản. Người có quyền sử dụng tài sản có thể là chủ sở hữu tài sản hoặc người không phải là chủ sở hữu tài sản. 7 Trong trường hợp chủ sở hữu thực hiện quyền sử dụng tài sản thuộc sở hữu của mình thì chủ sở hữu được khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo ý chí của mình nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Quyền sử dụng tài sản có thể được chuyển giao cho người khác thông qua hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật.
Người không phải là chủ sở hữu có quyền sử dụng tài sản đúng tính năng, công dụng, đúng phương thức. Người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình cũng có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản theo quy định của pháp luật. Quyền định đoạt Quyền định đoạt là quyền chuyển giao quyền sở hữu tài sản hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó. Chủ sở hữu tài sản có quyền bán, trao đổi, tặng cho, cho vay, để thừa kế, từ bỏ hoặc thực hiện các hình thức định đoạt khác phù hợp với quy định của pháp luật đối với tài sản.
Người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo uỷ quyền của chủ sở hữu hoặc theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, người được chủ sở hữu uỷ quyền định đoạt tài sản phải thực hiện việc định đoạt phù hợp với ý chí, lợi ích của chủ sở hữu. Trong ba quan hệ về tài sản: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt thì quyền chiếm hữu là quyền sở hữu tài sản, quan hệ này có vai trò quyết định các quan hệ khác. Phân loại tài sản Việc phân loại tài sản có thể dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau.
Về cơ bản, tài sản thường được phân loại dựa trên hình thức biểu hiện của tài sản và các quan hệ về tài sản. Ví dụ: phân loại theo hình thức sở hữu tài sản, phân loại theo mục đích sử dụng của tài sản trong đời sống xã hội, phân loại theo tính chất hoạt động của tài sản. 8 Căn cứ theo hình thức sở hữu tài sản hay chủ thể sở hữu tài sản, tài sản có thể được chia thành: tài sản quốc gia, tài sản tập thể và tài sản của cộng đồng, tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước, tài sản thuộc sở hữu toàn dân, tài sản của các tổ chức xã hội, tài sản tư nhân hay hộ gia đình. Căn cứ theo mục đích sử dụng của tài sản trong đời sống xã hội, tài sản được chia thành: tài sản là tư liệu sản xuất và tài sản là tư liệu tiêu dùng.
Căn cứ theo tính chất hoạt động của tài sản, bao gồm: tài sản không thể thay thế (như: đất đai, công trình.), tài sản có thể thay thế, tài sản có thể chia được và tài sản không thể chia được. Căn cứ theo thời hạn sử dụng, có thể chia tài sản thành: tài sản có thể sử dụng vĩnh viễn không mất đi và tài sản có thời hạn sử dụng nhất định. Tài sản có thể sử dụng vĩnh viễn không mất đi là đất đai, thềm lục địa. Tài sản có thời hạn sử dụng nhất định là những loại tài sản sẽ bị hao mòn hoặc hư hỏng sau một thời gian nhất định.
Tuỳ vào mục đích quản lý, sử dụng tài sản, người ta có thể sử dụng một cách phân loại tài sản hoặc tổng hợp nhiều cách phân loại tài sản cho phù hợp. Những vấn đề cơ bản về công sản 1. Khái niệm công sản Công sản (hay còn gọi là tài sản công) là nguồn lực, tiềm lực để mỗi quốc gia tồn tại và phát triển. Tùy theo cách tiếp cận khác nhau mà có cách hiểu khác nhau về công sản.
Một trong những quan niệm về công sản được nhiều người chấp nhận nhất là: " Công sản là nguồn của cải vật chất nguyên khai được hình thành, tồn tại trong tự nhiên do con người sáng tạo ra mà quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt thuộc về Nhà nước". Ở Anh, người ta quan niệm công sản là tài sản Nhà nước và là một bộ phận hết sức quan trọng trong tổng số tài sản quốc gia.