Luận văn: Hoàn thiện tổ chức kế toán tại Vườn Quốc gia U Minh Thượng

Luận văn phân tích thực trạng, hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại đơn vị sự nghiệp Vườn Quốc gia U Minh Thượng.

Trường đại học

Trường Đại học Duy Tân

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2020

134
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.1.1. Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.2. Đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập

1.1.3. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập

1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.2.1. Khái niệm và ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập

1.2.2. Yêu cầu, nguyên tắc và nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập

1.2.3. Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập có ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán

1.3. NỘI DUNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP

1.3.1. Tổ chức bộ máy kế toán

1.3.2. Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán

1.3.3. Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán

1.3.4. Tổ chức vận dụng hệ thống sổ kế toán và hình thức kế toán

1.3.5. Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán

1.3.6. Tổ chức công tác kiểm tra kế toán

1.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG

2.1. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG

2.1.1. Lịch sử hình thành, chức năng và nhiệm vụ của Vườn Quốc Gia U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang

2.1.2. Cơ cấu tổ chức quản lý của Vườn

2.1.3. Đặc điểm công tác quản lý tài chính của Vườn

2.2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG

2.2.1. Tổ chức công tác kế toán của Vườn Quốc gia

2.2.2. Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán

2.2.3. Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán

2.2.4. Tổ chức hệ thống sổ kế toán và hình thức kế toán

2.2.5. Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán

2.2.6. Tổ chức công tác kiểm tra kế toán

2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG TỈNH KIÊN GIANG

2.3.1. Những kết quả đạt được

2.3.2. Những hạn chế

2.3.3. Nguyên nhân của hạn chế

2.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG

3.1. YÊU CẦU HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG

3.1.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Vườn Quốc gia U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang

3.1.2. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán phải tuân thủ nguyên tắc hạch toán kế toán tại Vườn Quốc gia U Minh Thượng, tỉnh Kiên Giang

3.1.3. Hoàn thiện tổ chức hạch toán kế toán trên cơ sở phù hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị

3.1.4. Hoàn thiện tổ chức công tác kế toán qua việc ứng dụng Công nghệ thông tin

3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán của đơn vị

3.2.2. Giải pháp hoàn thiện tổ chức hệ thống chứng từ kế toán

3.2.3. Giải pháp hoàn thiện tổ chức hệ thống tài khoản kế toán

3.2.4. Giải pháp hoàn thiện tổ chức hệ thống sổ kế toán và hình thức kế toán

3.2.5. Giải pháp hoàn thiện tổ chức hệ thống báo cáo kế toán

3.2.6. Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kiểm tra kế toán

3.2.7. Hoàn thiện việc ứng dụng CNTT vào tổ chức công tác kế toán

3.3. ĐIỀU KIÊN THỰC HIỆN GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TẠI VƯỜN QUỐC GIA U MINH THƯỢNG, TỈNH KIÊN GIANG

3.3.1. Về phương diện vĩ mô

3.3.2. Về phương diện vi mô

3.4. KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Vai trò then chốt của công tác kế toán tại VQG U Minh Thượng

Công tác kế toán tại Vườn Quốc gia U Minh Thượng không chỉ là hoạt động ghi chép sổ sách đơn thuần mà là một công cụ quản lý chiến lược. Với vai trò là một đơn vị sự nghiệp có thu, VQG U Minh Thượng chịu trách nhiệm quản lý nguồn ngân sách nhà nước và các nguồn thu từ hoạt động dịch vụ, du lịch. Do đó, việc tổ chức công tác kế toán khoa học, hiệu quả là nền tảng để đảm bảo minh bạch thông tin tài chính, tuân thủ các quy định về quản lý tài chính công, và cung cấp dữ liệu chính xác cho việc ra quyết định của ban lãnh đạo. Một hệ thống kế toán hoàn thiện giúp đơn vị kiểm soát chặt chẽ các nguồn lực, từ kế toán tài sản cố định đến các khoản thu chi thường xuyên, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu bảo tồn và phát triển bền vững. Nghiên cứu của Dương Văn Hợp (2020) đã nhấn mạnh tính cấp thiết của việc hoàn thiện công tác này, xem đây là yếu tố quyết định đến hiệu quả sử dụng vốn nhà nước và nâng cao năng lực tự chủ của đơn vị. Việc áp dụng đúng các chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) trong bối cảnh đặc thù của một vườn quốc gia là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo tính thống nhất và pháp lý. Quá trình này đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa việc tổ chức bộ máy kế toán chuyên nghiệp và việc vận dụng linh hoạt các quy định tài chính hiện hành, từ đó tạo ra một hệ thống thông tin tài chính đáng tin cậy, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý và giám sát.

1.1. Cơ sở lý luận về kế toán hành chính sự nghiệp

Kế toán tại các đơn vị như VQG U Minh Thượng thuộc lĩnh vực kế toán hành chính sự nghiệp. Đây là loại hình kế toán có đặc thù riêng, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận mà nhằm phục vụ các nhiệm vụ chính trị, xã hội do nhà nước giao. Nguồn kinh phí hoạt động chủ yếu đến từ ngân sách nhà nước và các nguồn thu sự nghiệp. Do đó, mục tiêu chính của kế toán hành chính sự nghiệp là quản lý, giám sát chặt chẽ việc tiếp nhận và sử dụng các nguồn kinh phí, đảm bảo tuân thủ dự toán và các định mức, tiêu chuẩn của nhà nước. Các nguyên tắc và phương pháp hạch toán phải tuân thủ nghiêm ngặt theo Chế độ kế toán Hành chính sự nghiệp, hiện hành là Thông tư 107/2017/TT-BTC.

1.2. Đặc thù quản lý tài chính tại Vườn Quốc Gia U Minh Thượng

VQG U Minh Thượng là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ một phần chi thường xuyên. Cơ chế quản lý tài chính tại đây mang tính phức hợp, vừa phải tuân thủ quy định về quyết toán ngân sách nhà nước, vừa phải linh hoạt trong việc quản lý các nguồn thu từ dịch vụ du lịch sinh thái. Điều này đặt ra yêu cầu cao về việc bóc tách, hạch toán riêng biệt các nguồn thu, chi. Công tác kế toán phải phản ánh chính xác hiệu quả của từng hoạt động, làm cơ sở để lập dự toán, xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ và đánh giá mức độ tự chủ tài chính của đơn vị theo Nghị định 141/2016/NĐ-CP.

II. Phân tích thực trạng và hạn chế kế toán tại VQG U Minh Thượng

Qua phân tích thực trạng tại VQG U Minh Thượng, luận văn của Dương Văn Hợp (2020) đã chỉ ra nhiều kết quả đạt được bên cạnh những hạn chế tồn tại. Về ưu điểm, đơn vị đã cơ bản tổ chức được bộ máy kế toán, áp dụng hình thức kế toán trên máy vi tính và tuân thủ các quy định chung. Tuy nhiên, các hạn chế còn tồn tại đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả quản lý. Cụ thể, việc tổ chức bộ máy kế toán chưa thực sự tối ưu, việc phân công nhiệm vụ đôi khi còn chồng chéo. Hệ thống chứng từ, sổ sách tuy được áp dụng nhưng quy trình luân chuyển còn thủ công, chậm trễ, ảnh hưởng đến tính kịp thời của thông tin. Hệ thống kiểm soát nội bộ chưa được xây dựng một cách bài bản và vận hành hiệu quả, dẫn đến những rủi ro tiềm ẩn trong quản lý tài sản và chi tiêu. Việc lập báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán đôi khi còn gặp khó khăn, chưa cung cấp được thông tin quản trị sâu sắc cho lãnh đạo. Nguyên nhân của những hạn chế này xuất phát từ cả yếu tố khách quan như cơ chế chính sách còn thay đổi và yếu tố chủ quan như trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ hay việc chưa mạnh dạn ứng dụng công nghệ mới. Việc nhận diện rõ những thách thức này là bước đầu tiên để xây dựng các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán tại VQG U Minh Thượng một cách thực tiễn và hiệu quả.

2.1. Hạn chế trong tổ chức bộ máy kế toán và nhân sự

Mặc dù đã có phòng Kế hoạch - Tài chính, nhưng việc phân công nhiệm vụ cho từng kế toán viên chưa thực sự rõ ràng, dẫn đến tình trạng một người có thể kiêm nhiệm nhiều phần hành không liên quan. Điều này làm giảm tính chuyên môn hóa và tăng nguy cơ sai sót. Bên cạnh đó, số lượng biên chế kế toán còn mỏng so với khối lượng công việc ngày càng tăng, đặc biệt khi đơn vị đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ. Năng lực chuyên môn của đội ngũ cần được bồi dưỡng, cập nhật thường xuyên hơn nữa để theo kịp các thay đổi về chế độ, chính sách và công nghệ.

2.2. Vướng mắc trong quy trình kế toán và hệ thống chứng từ

Thực trạng cho thấy quy trình kế toán, đặc biệt là quy trình luân chuyển chứng từ, còn nhiều bước thủ công. Việc phê duyệt và chuyển chứng từ giữa các phòng ban và ban giám đốc đôi khi mất nhiều thời gian, làm chậm quá trình ghi sổ và lên báo cáo. Một số chứng từ hướng dẫn chưa được đơn vị vận dụng linh hoạt để phù hợp với đặc thù quản lý nội bộ. Điều này gây khó khăn trong việc cung cấp thông tin quản trị kịp thời, ảnh hưởng đến các quyết định điều hành, đặc biệt là trong quản lý các khoản thu chi từ hoạt động du lịch.

III. Phương pháp hoàn thiện quy trình công tác kế toán toàn diện

Để khắc phục các hạn chế, việc hoàn thiện công tác kế toán tại VQG U Minh Thượng cần tập trung vào việc chuẩn hóa và tối ưu hóa các quy trình. Giải pháp trọng tâm là xây dựng lại quy trình kế toán theo hướng tinh gọn, rõ ràng và hiệu quả hơn. Điều này bao gồm việc thiết lập một sơ đồ luân chuyển chứng từ khoa học, quy định rõ thời gian xử lý tại mỗi khâu, từ người lập, người duyệt đến bộ phận kế toán. Việc chuẩn hóa hệ thống tài khoản kế toán, chi tiết hóa các tài khoản cấp 2, cấp 3 để theo dõi riêng biệt nguồn ngân sách và nguồn thu sự nghiệp là cực kỳ cần thiết. Giải pháp này giúp việc lập báo cáo tài chính trở nên chính xác và dễ dàng hơn, đồng thời cung cấp số liệu chi tiết để đánh giá hiệu quả công tác kế toán theo từng mảng hoạt động. Cần rà soát và hoàn thiện hệ thống sổ sách kế toán, đảm bảo tính nhất quán giữa sổ chi tiết và sổ tổng hợp. Hơn nữa, việc xây dựng và ban hành các quy chế, quy định nội bộ về quản lý tài chính, đặc biệt là quy chế chi tiêu nội bộ, cần được cập nhật thường xuyên để phù hợp với thực tiễn và các quy định mới của nhà nước, góp phần nâng cao tính pháp lý và hiệu quả trong quản lý.

3.1. Tối ưu hóa hệ thống chứng từ và sổ kế toán chi tiết

Cần rà soát toàn bộ danh mục chứng từ đang áp dụng. Đối với các chứng từ bắt buộc, phải tuân thủ nghiêm ngặt mẫu biểu của Bộ Tài chính. Đối với chứng từ hướng dẫn, đơn vị cần chủ động thiết kế lại cho phù hợp, bổ sung các chỉ tiêu quản lý cần thiết. Song song đó, cần xây dựng hệ thống sổ kế toán chi tiết để theo dõi các khoản mục quan trọng như chi phí hoạt động du lịch, doanh thu theo từng loại dịch vụ, tình hình sử dụng vật tư, công cụ dụng cụ, và chi tiết công tác kế toán tài sản cố định. Điều này là cơ sở để cung cấp thông tin quản trị nội bộ chính xác.

3.2. Chuẩn hóa quy trình lập báo cáo tài chính theo VAS

Quy trình lập báo cáo cần được chuẩn hóa bằng một văn bản hướng dẫn nội bộ, quy định rõ trách nhiệm của từng kế toán viên và thời hạn hoàn thành. Việc đối chiếu số liệu giữa các sổ, kiểm tra số dư cuối kỳ phải được thực hiện định kỳ hàng tháng, hàng quý, thay vì chỉ tập trung vào cuối năm. Áp dụng nghiêm túc các chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) liên quan đến đơn vị sự nghiệp sẽ đảm bảo các báo cáo tài chính của VQG U Minh Thượng phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính và kết quả hoạt động, tăng cường tính tin cậy đối với cơ quan quản lý cấp trên.

IV. Giải pháp nâng cao bộ máy và ứng dụng CNTT trong kế toán

Con người và công nghệ là hai trụ cột để thực hiện thành công việc hoàn thiện công tác kế toán tại VQG U Minh Thượng. Trước hết, cần tái cấu trúc và hoàn thiện việc tổ chức bộ máy kế toán. Điều này bao gồm việc xây dựng bản mô tả công việc chi tiết cho từng vị trí, phân định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm, tránh chồng chéo. Cần có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ định kỳ cho đội ngũ kế toán, đặc biệt là các kiến thức mới về chế độ kế toán, thuế và kỹ năng sử dụng phần mềm. Giải pháp đột phá nằm ở việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin. Việc đầu tư và khai thác tối đa các tính năng của phần mềm kế toán MISA hoặc các phần mềm tương tự sẽ giúp tự động hóa nhiều khâu, từ nhập liệu chứng từ, ghi sổ đến lập báo cáo. Điều này không chỉ giảm thiểu sai sót do thao tác thủ công mà còn giúp truy xuất thông tin nhanh chóng, nâng cao năng suất lao động. Hơn nữa, phần mềm còn hỗ trợ mạnh mẽ cho việc quản trị, phân tích số liệu tài chính, giúp ban lãnh đạo có cái nhìn tổng quan và đưa ra quyết định kịp thời. Việc tích hợp chữ ký số vào quy trình duyệt chi cũng là một bước tiến cần thiết để hiện đại hóa công tác tài chính.

4.1. Nâng cao năng lực đội ngũ và tổ chức bộ máy kế toán

Cần xây dựng một lộ trình phát triển nhân sự cho phòng Kế hoạch - Tài chính. Khuyến khích và tạo điều kiện cho cán bộ tham gia các khóa học nâng cao, lấy chứng chỉ chuyên ngành. Đồng thời, cần xem xét lại mô hình tổ chức bộ máy, có thể bố trí các kế toán viên chuyên trách theo từng mảng: một người phụ trách kế toán ngân sách, một người chuyên về kế toán hoạt động dịch vụ, và một kế toán tổng hợp. Mô hình này giúp tăng cường tính chuyên môn và trách nhiệm cá nhân.

4.2. Ứng dụng phần mềm kế toán MISA để tự động hóa

Đơn vị cần khai thác triệt để các phân hệ của phần mềm kế toán MISA, không chỉ dừng lại ở kế toán tiền mặt, tiền gửi mà còn cả phân hệ tài sản cố định, công cụ dụng cụ, và kho. Việc thiết lập hệ thống báo cáo quản trị tự động trên phần mềm sẽ cung cấp cho lãnh đạo các số liệu về dòng tiền, cơ cấu chi phí, doanh thu dịch vụ một cách tức thời. Đào tạo chuyên sâu cho nhân viên để sử dụng thành thạo phần mềm là yếu tố tiên quyết để giải pháp này phát huy hiệu quả tối đa.

V. Bí quyết tăng cường kiểm soát và đánh giá hiệu quả kế toán

Một hệ thống kế toán chỉ thực sự hoàn thiện khi có cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả. Do đó, giải pháp quan trọng tiếp theo là xây dựng và vận hành hệ thống kiểm soát nội bộ một cách bài bản tại VQG U Minh Thượng. Hệ thống này không chỉ giới hạn ở bộ phận kế toán mà phải bao trùm tất cả các hoạt động liên quan đến tài chính. Cần thành lập ban kiểm soát nội bộ hoặc giao nhiệm vụ này cho một bộ phận độc lập để thực hiện kiểm tra định kỳ hoặc đột xuất việc tuân thủ quy trình, quy chế tài chính. Việc xây dựng một bộ tiêu chí để đánh giá hiệu quả công tác kế toán là rất cần thiết. Các tiêu chí này có thể bao gồm: tính kịp thời của báo cáo, mức độ chính xác của số liệu, khả năng cung cấp thông tin quản trị, và mức độ tiết kiệm chi phí vận hành bộ máy. Dựa trên các tiêu chí này, ban lãnh đạo có thể đánh giá định kỳ hàng năm và đưa ra các điều chỉnh cần thiết. Tăng cường công tác kiểm toán nội bộ và công khai, minh bạch thông tin tài chính không chỉ giúp ngăn ngừa sai phạm mà còn củng cố niềm tin của các bên liên quan và cơ quan quản lý cấp trên, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công tại đơn vị.

5.1. Xây dựng quy trình kiểm soát nội bộ cho các hoạt động

Cần văn bản hóa quy trình kiểm soát cho các chu trình nghiệp vụ chính như: quy trình mua sắm tài sản, quy trình thanh toán, quy trình quản lý thu phí dịch vụ. Trong đó, nguyên tắc "bất kiêm nhiệm" (người duyệt chi không phải là người chi tiền) và "bốn mắt" (có sự kiểm tra, đối chiếu chéo) phải được áp dụng triệt để. Việc kiểm kê tài sản, tiền mặt định kỳ và đột xuất là một phần không thể thiếu của hệ thống kiểm soát nội bộ hiệu quả.

5.2. Tăng cường công tác quyết toán ngân sách nhà nước

Công tác quyết toán ngân sách nhà nước hàng năm phải được thực hiện một cách nghiêm túc, đúng hạn và chính xác. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa bộ phận kế toán và các phòng ban chuyên môn khác trong việc tập hợp chứng từ, giải trình số liệu. Việc lập báo cáo quyết toán cần được rà soát kỹ lưỡng bởi kế toán trưởng và lãnh đạo đơn vị trước khi gửi đến Kho bạc Nhà nước và cơ quan tài chính. Điều này giúp tránh các sai sót và vướng mắc trong quá trình thẩm tra, phê duyệt quyết toán.

01/10/2025
Luận văn thạc sĩ hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại vườn quốc gia u minh thượng tỉnh kiên giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Khái niệm về đơn vị sự nghiệp công lập Trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, cụm từ “đơn vị HCSN” được hiểu là từ gọi tắt cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, các đoàn thể, hội, quần chúng. Trong quá trình đẩy mạnh cải cách hành chính, đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ, các cơ quan Nhà nước xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý của mình về kinh tế, xã hội, phù hợp với yêu cầu phát triển.

Đã tách bạch rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn giữa cơ quan hành chính và đơn vị sự nghiệp. Vì vậy, hiện nay đơn vị sự nghiệp công lập thường được định nghĩa khá giống nhau như: “Đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước.” [18] “Đơn vị sự nghiệp công lập là những đơn vị do Nhà nước thành lập hoạt động công lập thực hiện cung cấp các dịch vụ xã hội công cộng và các dịch vụ nhằm duy trì sự hoạt động bình thường của các ngành kinh tế quốc dân. Các đơn vị này hoạt động trong các lĩnh vực: Y tế, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ và môi Vườn, văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm,…”.[7] “Đơn vị do Nhà nước quyết định thành lập nhằm thực hiện một nhiệm vụ chuyên môn nhất định hay quản lý Nhà nước về một lĩnh vực nào đó, hoạt động bằng nguồn kinh phí NSNN cấp, cấp trên cấp toàn bộ hoặc cấp một phần 8 kinh phí và các nguồn khác đảm bảo theo nguyên tắc không bồi hoàn trực tiếp nhằm thực hiện nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao cho từng giai đoạn”. Như vậy, từ những phân tích trên, tóm lại các đơn vị sự nghiệp công lập là tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý Nhà nước.

Nguồn tài chính để đảm bảo hoạt động do NSNN cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách. Các hoạt động này có giá trị tinh thần vô hạn, chủ yếu được tổ chức để phục vụ xã hội, do đó chi phí chi ra không được trả lại trực tiếp bằng hiệu quả kinh tế nào đó mà được thể hiện bằng hiệu quả xã hội nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Đặc điểm đơn vị sự nghiệp công lập Đặc điểm của đơn vị sự nghiệp công lập chi phối đến cơ chế quản lý tài chính của các đơn vị, ảnh hưởng đến việc tổ chức quản lý hoạt động của đơn vị cũng như ảnh hưởng đến công tác kế toán của các đơn vị sự nghiệp công lập. Đặc điểm hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công là rất đa dạng, bắt nguồn từ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường.

Tuy nhiên, các đơn vị sự nghiệp công lập dù hoạt động ở các lĩnh vực khác nhau nhưng đều mang những đặc điểm cơ bản như sau: Thứ nhất, mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập là không vì lợi nhuận, chủ yếu phục vụ lợi ích cộng đồng. Trong nền kinh tế, các sản phẩm, dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công lập tạo ra đều có thể trở thành hàng hóa cung ứng cho mọi thành phần trong xã hội. Việc cung ứng các hàng hóa này cho thị trường chủ yếu không vì mục đích lợi nhuận như hoạt động sản xuất kinh doanh. Nhà nước tổ chức, duy trì và tài trợ cho các hoạt động sự nghiệp để cung cấp những sản phẩm, dịch vụ cho thị trường trước hết nhằm thực hiện vai trò của Nhà nước trong việc phân phối lại thu nhập và thực hiện các chính sách phúc lợi công cộng khi can thiệp 9 vào thị trường.

Nhờ đó sẽ hỗ trợ cho các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội hoạt động bình thường, nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, đảm bảo nguồn nhân lực, thúc đẩy hoạt động kinh tế - xã hội phát triển và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn, đảm bảo và không ngừng nâng cao đời sống, sức khỏe, văn hóa, tinh thần của nhân dân. Thứ hai, sản phẩm của các đơn vị sự nghiệp công lập là sản phẩm mang lại lợi ích chung có tính bền vững, lâu dài cho xã hội. Sản phẩm, dịch vụ do hoạt động sự nghiệp công lập tạo ra chủ yếu là những sản phẩm, dịch vụ có giá trị về sức khỏe, tri thức, văn hóa, đạo đức, xã hội,… Đây là những sản phẩm vô hình và có thể dùng chung cho nhiều người, cho nhiều đối tượng trên phạm vi rộng. Thứ ba, hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước.

Với chức năng của mình, Chính phủ luôn tổ chức, duy trì và đảm bảo hoạt động sự nghiệp để thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. Để thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội nhất định, Chính phủ tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia như chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng, chương trình dân số kế hoạch hóa gia đình, chương trình xóa mù chữ,… Những chương trình mục tiêu quốc gia này chỉ có Nhà nước, với vai trò của mình mới có thể thực hiện một cách triệt để và có hiệu quả, nếu để tư nhân thực hiện, mục tiêu lợi nhuận sẽ lấn chiếm mục tiêu xã hội và dẫn đến hạn chế việc tiêu dùng sản phẩm hoạt động sự nghiệp, từ đó kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội. Phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Để đảm bảo hiệu quả quản lý Nhà nước thì cần có sự phân loại các đơn vị sự nghiệp công lập. Tùy thuộc quan điểm, cách tiếp cận hoặc do các yêu cầu của quản lý Nhà nước,… mà các đơn vị sự nghiệp công lập được phân chia 10 theo các tiêu thức khác nhau.

Các cách phân loại tuy khác nhau về hình thức, đôi khi không có ranh giới rạch ròi song tựu trung lại đều nhằm mục đích nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp công lập trên cơ sở nghiên cứu, phân tích, đánh giá đưa ra các định hướng, mục tiêu phát triển của mỗi loại hình đơn vị phù hợp với từng thời kỳ. Theo tính chất công cộng hay cá nhân của dịch vụ cung cấp thì đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm đơn vị sự nghiệp cung cấp dịch vụ công cộng thuần túy và đơn vị sự nghiệp cung cấp các dịch vụ công cộng có tính chất cá nhân. Theo chủ thể quản lý thì đơn vị sự nghiệp công lập được phân thành: - Đơn vị sự nghiệp công lập do Trung ương quản lý, bao gồm: Đài truyền hình Việt Nam, các bệnh viện, Vườn Quốc gia, khu bảo tồn do Trung ương quản lý,…; - Đơn vị sự nghiệp công lập do địa phương quản lý, bao gồm: Đài truyền hình tỉnh, thành phố, các bệnh viện, Vườn Quốc gia, khu bảo tồn do địa phương quản lý,…; Theo quan điểm về thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp công lập tại Nghị định 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ, các đơn vị sự nghiệp công lập bao gồm 4 loại: Đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm chi thường xuyên; đơn vị sự nghiệp công tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; đơn vị sự nghiệp công do Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên. Việc phân loại đơn vị sự nghiệp công lập theo nghị định này được dựa trên mức độ tự chủ về tài chính của các đơn vị cả về chi thường xuyên và chi đầu tư.

Theo lĩnh vực hoạt động thì đơn vị sự nghiệp công lập được chia thành: - Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đào tạo bao gồm các cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân như 11 các Trường mầm non, tiểu học, trung học, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp, trung tâm giáo dục thường xuyên, Trường trung học chuyên nghiệp, Trường cao đẳng, đại học, học viện,. - Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực kinh tế bao gồm các viện tư vấn, thiết kế, quy hoạch đô thị, nông thôn; các trung tâm nghiên cứu khoa học và ứng dụng về nông, lâm, ngư nghiệp, giao thông, công nghiệp, địa chính,… - Đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực y tế bao gồm các cơ sở khám chữa bệnh như các bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế thuộc các Bộ, ngành và địa phương; cơ sở khám chữa bệnh thuộc các viện nghiên cứu, trường đào tạo y dược; các cơ sở điều dưỡng, phục hồi chức năng, các trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe,… Tóm lại, đặc điểm, lĩnh vực hoạt động, tính chất hoạt động và mục đích hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập được xem là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị sự nghiệp công lập. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÔNG LẬP 1. Khái niệm và ý nghĩa của tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập 1.

Khái niệm tổ chức công tác kế toán trong đơn vị sự nghiệp công lập Trong đơn vị sự nghiệp công lập, kế toán - một trong những công cụ quản lý có hiệu lực được sử dụng trong các đơn vị để quản lý tài sản, quản lý quá trình tiếp nhận và sử dụng các nguồn kinh phí. Song để kế toán thực sự trở thành công cụ quản lý đắc lực ở các đơn vị sự nghiệp công lập, thì vấn đề công tác kế toán hợp lý và khoa học là một trong những tiền đề tiên quyết của các đơn vị. 12 Do đó để đạt được yêu cầu trên, theo tác giả mỗi đơn vị sự nghiệp công lập cần phải đổi mới tổ chức công tác kế toán khoa học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ