CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CẤU BỘ MÁY TỔ CHỨC DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Tổ chức, doanh nghiệp 1. Tổ chức Có nhiều cách tiếp cận khái niệm “Tổ chức” khác nhau như: - Theo triết học thì tổ chức là thuộc tính của sự vật, sự vật luôn tồn tại dưới dạng tổ chức nhất định.Hiểu một cách rộng ra thì tổ chức là cơ cấu tồn tại của sự vật.
Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung. Vì vậy, tổ chức là thuộc tính của bản thân các sự vật. - Theo lý thuyết quản trị công thì tổ chức là một hệ thống những hoạt động hay nỗ lực của hai hay nhiều người được kết hợp với nhau một cách có ý thức. Quản trị công nhấn mạnh đến hai yếu tố là chủ thể và nguyên tắc hoạt động của tổ chức là sự kết hợp có ý thức của các chủ thể khi đề cập đến khái niệm tổ chức [29].
- Khoa học luật dân sự gọi tổ chức là pháp nhân để phân biệt với thể nhân (con người) là các chủ thể của quan hệ pháp luật. Theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Dân sự 2015 thì: Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau: được thành lập theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan; có cơ cấu tổ chức theo quy định tại điều 83 của Bộ luật này; có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập [24, điều 74]. Cách tiếp cận này nhấn mạnh đến các điều kiện thành lập tổ chức và các yêu cầu đảm bảo hoạt động của tổ chức. - Trong cuốn Sổ tay nghiệp vụ cán bộ làm công tác tổ chức nhà nước có đưa ra định nghĩa: “Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách 10 có ý thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung (của tổ chức)” [1, tr8].
Quan niệm của những người làm công tác tổ chức nhà nước có nhiều điểm tương đồng với khoa học quản lý, luật học trong đó nhấn mạnh tới mục tiêu chung, nguyên tắc hoạt động của tổ chức (điều phối một cách có ý thức). Tuy nhiên, có một điểm mới quan trọng trong cách tiếp cận này về tổ chức là đề cập đến phạm vi của tổ chức, mỗi tổ chức có phạm vi hoạt động khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, cơ cấu, nguồn lực của tổ chức đó. Các yếu tố này là những điều kiện của tổ chức. Mặc dù có các cách tư duy, tiếp cận khác nhau, nhưng có một số điểm chung căn bản khi tìm hiểu khái niệm của “Tổ chức” như sau: - Tổ chức là của con người trong xã hội gắn với một hình thái kinh tế - xã hội và một kiểu nhà nước; - Con người trong tổ chức gắn kết với nhau bởi những mục đích xác định và hành động để đạt đến mục tiêu chung; - Có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và cơ cấu xác định; - Được hình thành và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật.
Và tựu trung lại, ta có thể đưa ra một khái niệm về Tổ chức theo nghĩa là một danh từ: Đó là một đơn vị tập hợp của con người trong xã hội được sắp xếp và liên kết theo một cơ cấu nhất định; có phạm vi, chức năng, nhiệm vụ, hoạt động theo những nguyên tắc nhất định phù hợp với quy định pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu chung đã đề ra. TS Vũ Hồng Phong khi đề cập đến Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực công có đưa ra khái niệm tổ chức theo nghĩa là một động từ: “Tổ chức là việc sắp xếp, bố trí và liên kết các yếu tố rời rạc/ riêng rẽ thành một chính thể, có cấu tạo, cấu trúc và cùng phản ánh hoặc thực hiện một chức năng chung nhất định” [24]. 11 Tổ chức được hiểu là một quá trình sắp xếp, bố trí công việc, nguồn lực trong tổ chức sao cho các nguồn lực phát huy được hiệu quả tối đa để đạt được mục tiêu chung của tổ chức. Công tác tổ chức gồm hai nội dung cơ bản: (i) Tổ chức cơ cấu: Tổ chức cơ cấu quản lý (chủ thể quản lý) và tổ chức cơ cấu sản xuất – kinh doanh (đối tượng bị quản lý) (ii)Tổ chức quá trình: Tổ chức quá trình quản trị và tổ chức quá trình sản xuất – kinh doanh.
Trong doanh nghiệp, tổ chức bao gồm việc xây dựng bộ máy quản lý doanh nghiệp như bao nhiêu cấp quản lý, bao nhiêu phòng ban, phân công chức năng nhiệm vụ cho các phòng ban cũng như mỗi cá nhân, xác định biên chế cho từng bộ phận, bao gồm cả việc tuyển chọn, bố trí những người đảm nhận các chức vụ.; xây dựng hệ thống sản xuất và kinh doanh bao gồm việc xây dựng các bộ phận sản xuất, kinh doanh, phân công chức năng, nhiệm vụ cho nó; và xây dựng, thiết lập cơ chế hoạt động của các bộ phận có liên quan trong doanh nghiệp để vận hành đạt được mục tiêu đề ra. Doanh nghiệp Trong thực tế có nhiều khái niệm hay định nghĩa khác nhau về doanh nghiệp, tùy thuộc vào những cách nhìn khác nhau về vai trò, vị trí hay chức năng của một doanh nghiệp trong xã hội. Xét trên góc độ quản lý về mặt nhà nước và đặc điểm hoạt động, doanh nghiệp có thể được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [23, khoản 7 điều 1]. Như vậy, Doanh nghiệp là một tổ chức có tư cách pháp nhân, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, tiến hành các hoạt động kinh doanh trong nhiều lĩnh vực khác nhau (thương mại, dịch vụ.) và phải tuân thủ theo những quy định của Luật doanh nghiệp, các quy định pháp luật khác và các chính sách hiện hành của nhà nước trong quá trình hoạt động kinh doanh.
12 Đặc điểm chung của Doanh nghiệp Doanh nghiệp là một tổ chức, nên cũng như các tổ chức khác trong xã hội, ngoài những đặc điểm chung của tổ chức, doanh nghiệp còn có một số đặc điểm mang tính chất đặc thù như sau: Doanh nghiệp thực hiện các hoạt động kinh doanh. Hoạt động kinh doanh là hoạt động chính của doanh nghiệp, là tiêu chí để phân biệt một doanh nghiệp với một tổ chức không phải là doanh nghiệp. “Kinh doanh của doanh nghiệp là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời” [23, khoản16 điều 4]. Doanh nghiệp có mục tiêu chung: Mọi cá nhân, bộ phận trong doanh nghiệp hoạt động đều có mục tiêu và theo những mục tiêu chung.
Mục tiêu chung của doanh nghiệp mang tính tổng thể và bao trùm, chứa đựng trong đó nhiều mục tiêu cụ thể của các cá nhân, bộ phận trong doanh nghiệp đó (người lao động, các phòng ban, bộ phận). Mục tiêu chung là cơ sở để tổ chức triển khai các hoạt động, để điều hành, phối hợp các bộ phận trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Doanh nghiệp được quản lý theo các thể chế, nguyên tắc, phương pháp nhất định: Cũng như mọi hoạt động mang tính tổ chức khác, doanh nghiệp được hoạt động trên cơ sở của những quy định pháp luật, quy trình nội bộ, nguyên tắc và các phương pháp làm việc đã đề ra. Đó được xem là các chuẩn mực, tiêu chuẩn cần thiết để quản lý, và là những công cụ để điều hành mọi hoạt động của doanh nghiệp một cách có hệ thống.
Doanh nghiệp có các nguồn lực cần thiết: Các doanh nghiệp bao giờ cũng được hình thành và thực hiện các hoạt động dựa trên sự sở hữu và sử dụng có hiệu quả những nguồn lực nhất định theo quy định của pháp luật. Các nguồn lực hữu hình gồm: nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính và các cơ sở 13 vật chất khác ; các nguồn lực vô hình gồm: thương hiệu, uy tín thương mại, mạng lưới khách hàng… Doanh nghiệp có những đặc trưng văn hóa riêng: Mỗi doanh nghiệp, do đặc điểm hoạt động, kinh doanh theo ngành nghề, lĩnh vực, địa bàn và các yếu tố trong nội bộ doanh nghiệp đều hình thành những nét hay đặc trưng văn hóa riêng của mình. Các loại hình doanh nghiệp Tùy thuộc vào tiêu chí phân loại, sẽ có nhiều cách phân loại doanh nghiệp khác nhau như: - Theo hình thức sở hữu thì doanh nghiệp sẽ được phân loại thành Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, Công ty cổ phần… - Theo quy mô thì doanh nghiệp sẽ được phân loại thành Doanh nghiệp lớn, Doanh nghiệp nhỏ và vừa, Doanh nghiệp siêu nhỏ. - Theo cấp quản lý thì doanh nghiệp sẽ được phân loại thành Doanh nghiệp trung ương và doanh nghiệp địa phương.
- Theo lĩnh vực hoạt động thì doanh nghiệp sẽ được phân loại thành Doanh nghiệp thương mại, Doanh nghiệp dịch vụ, Doanh nghiệp sản xuất… - Theo Luật Doanh nghiệp 2014 có 5 loại hình doanh nghiệp sau: (1). Công ty Trách nhiệm hữu hạn Loại hình Công ty TNHH bao gồm Công ty TNHH 1 thành viên và Công ty TNHH 2 thành viên trở lên. Công ty TNHH một thành viên Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu. Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi của số vốn điều lệ của công ty [23, khoản 1 điều 73].
14 Cơ cấu tổ chức quản lý: Được tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây: - Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và Kiểm soát viên - Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc và Kiểm soát viên [23, khoản 1 điều 78].