CHƯƠNG I: MỘT SỐ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHÍNH SÁCH TRIỂN KHAI CHIẾN LƯỢC KINH DOANH CỦA CÔNG TY 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN 1. Khái niệm chiến lược, chính sách Theo Alfred Chadler, Đại học Havard thì “chiến lược là sự xác định các mục tiêu cơ bản, lâu dài của doanh nghiệp, đồng thời lựa chọn cách thức hoác quá trình hành động và phân phối các nguồn lực cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó”. Theo Michael Porter (1996), “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty.
Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc… và kết hợp chúng với nhau cốt lõi của chiến lược là “lựa chọn cái chưa được làm”. Theo cách tiếp cận thông thường, “chiến lược là hệ thống các mục tiêu dài hạn, các chính sách và biện pháp chủ yếu về sản xuất kinh doanh, về tài chính, và về giải quyết nhân tố con người nhằm đưa doanh nghiệp phát triển lên một bước mới về chất”. Theo bài giảng bộ môn Nhập môn chiến lược và chính sách kinh doanh thì “chính sách là những hướng dẫn, quy tắc, thủ tục được thiết lập để bảo đảm cho việc thực hiện những mục tiêu đã đề ra. Chính sách là những khuôn khổ, những điều khoản, những quy định chung tạo những cơ sở thống nhất khi ra quyết định quản trị”.
Các cấp chiến lược Theo cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp, các chiến lược thường được tổ chức và triển khai ở 3 cấp: - Chiến lược cấp công ty : Ban lãnh đạo công ty đề ra mục tiêu và phương hướng hoạt động trong ngắn hạn và dài hạn, bao gồm các quyết định về thông báo sứ mệnh; đưa ra các mục tiêu ngắn hạn, dài hạn; phân bổ nguồn lực; phối hợp các SBU có liên quan; quyết định chiến lược phát triển của công ty. - Chiến lược cấp kinh doanh: là việc thực hiện các chiến lược nhằm cạnh tranh thành công trên một thị trường hoặc đoạn thị trường cụ thể. Chiến lược kinh doanh cần chỉ ra cách cách thức cạnh tranh trong ngành,các định vị trí cạnh tranh cho các SBU và phối hợp, phân bổ nguồn lực hiệu quả. SV: Nguyễn Thị Huyền GVHD: Ths.
Nguyễn Thị Mỹ Nguyệt Khóa luận tốt nghiệp 6 Khoa quản trị Doanh nghiệp - Chiến lược cấp chức năng: liên quan đến các phương thức hoạt động của từng bộ phận chức năng trong tổ chức nhằm tối ưu hóa lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp và từng SBU trong doanh nghiệp.Khái niệm triển khai chiến lược kinh doanh “Triển khai chiến lược kinh doanh là việc chia nhỏ mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp thành các mục tiêu hàng năm rồi phân bổ các nguồn lực, thiết lập các chính sách nhằm thực hiện mục tiêu đề ra”. Như vậy nội dung của triển khai chiến lược kinh doanh bao gồm: Thiết lập các mục tiêu hàng năm:là hoạt động phân tán trực tiếp đến tất cả các quản trị viên trong công ty. Các mục tiêu hàng năm là những hướng dẫn cho hành động, nó chỉ đạo và hướng dẫn những nỗ lực và hoạt động của các thành viên trong công ty. Các mục tiêu đề ra phải có sự nhất quán logic, sự hợp lý của tổ chức và sự hợp lý của cá nhân.
Xây dựng các chính sách:là những chỉ dẫn chung nhằm chỉ ra những giới hạn về cách thức đạt tới mục tiêu chiến lược. Các chính sách được xây dựng phải cụ thể và có tính ổn định, phải tóm tắt và tổng hợp thành các văn bản hướng dẫn, các quy tắc, thủ tục mà các chỉ dẫn này đóng góp thiết thực cho việc đạt tới các mục tiêu của chiến lược chung. Một số chính sách trong triển khai chiến lược như: chính sách Marketing, chính sách nhân sự, chính sách tài chính, chính sách R&D. Phân bổ các nguồn lực: là hoạt động trọng tâm trong việc thực hiện chiến lược kinh doanh, các nguồn lực nên được phân bổ thế nào giữa các bộ phận, các chức năng và đơn vị khác nhau trong tổ chức nhằm đảm bảo chiến lược được lựa chọn thực hiện một cách tốt nhất.
Thay đổi cấu trúc tổ chức: cấu trúc tổ chức là tập hợp các chức năng và quan hệ mang tính chính thức xác định các nhiệm vụ mà mỗi đơn vị của doanh nghiệp phải hoàn thành, đồng thời cả các phương thức hợp tác giữa các đơn vị này. Cấu trúc tổ chức đòi hỏi những thay đổi trong cách thức kết cấu của doanh nghiệp vì cấu trúc tổ chức của một doanh nghiệp ràng buộc cách thức các mục tiêu và các chính sách được thiết lập, ràng buộc cách thức và nguồn lực được phân chia. Phát triển lãnh đạo chiến lược: là một hệ thống những tác động nhằm thúc đẩy SV: Nguyễn Thị Huyền GVHD: Ths. Nguyễn Thị Mỹ Nguyệt Khóa luận tốt nghiệp 7 Khoa quản trị Doanh nghiệp những con người tự nguyện và nhiệt tình thực hiện các hành động cần thiết nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp.
Là những chỉ dẫn, điều khiển, ra quyết định, động viên, điều chỉnh để hiện thực hóa tương lai. Phát huy văn hóa doanh nghiệp: văn hóa doanh nghiệp là một tập hợp các niềm tin, giá trị được chia sẻ & học hỏi bởi các thành viên của tổ chức, được xây dựng và quảng bá trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Văn hóa doanh nghiệp chi phối cách thức các thành viên trong doanh nghiệp tác động lẫn nhau và đồng thời tác động tới các bên liên quan đến doanh nghiệp. Văn hóa hình thành ảnh hưởng thái độ con người trong tổ chức.
MỘT SỐ LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Cuối những năm 70 của thế kỷ XX xuất hiện những nhân tố mới trong tư duy quản lý, nó giải đáp về nguyên nhân sự thành công của doanh nghiệp. Hai chuyên gia tư vấn của Mckinsey & Co là Tom Peters và Robert Waterman đã nghiên cứu một nhóm công ty hàng đầu tại Mỹ như: Kodak, HP, IBM, 3M… Năm 1982 họ xuất bản quyển sách với tiêu đề In search of Excellence bao gồm 7 yếu tố. Do 7 yếu tố trong tiếng anh đều được bắt đầu bằng chữ S vì vậy nó được đặt tên là mô hình 7S. Mô hình này dựa trên quan điểm rằng doanh nghiệp không chỉ là một tổ chức, hơn thế nó được đặc trưng bởi 7 yếu tố.Những yếu tố thành công Bảy yếu tố thành công được chia thành nhóm yếu tố mềm và nhóm yếu tố cứng.
Mọi doanh nghiệp đều có cả 7 yếu tố nhưng chúng tồn tại ở các dạng khác nhau. Kết luận chốt của mô hình này là: Những công ty sẽ thành công nếu tất cả các yếu tố được gây dựng phù hợp với các yếu tố môi trường luôn thay đổi SV: Nguyễn Thị Huyền GVHD: Ths. Nguyễn Thị Mỹ Nguyệt Khóa luận tốt nghiệp 8 Khoa quản trị Doanh nghiệp 1.Các nhân tố ảnh hưởng Hình 1.1: Sơ đồ mô hình 7S- Mckinsey Chiến lược :Một loạt các hoạt động nhằm duy trì và phát triển các lợi thế cạnh tranh. Cấu trúc:Sơ đồ tổ chức và các thông tin có liên quan thể hiện các quan hệ mệnh lệnh ,báo cáo và cách thức mà các nhiệm vụ được phân chia và hội nhập.
Hệ thống:Các quá trình,quy trình thể hiện cách tổ chức vận hành hàng ngày. Phong cách:Những điều mà các nhà quản trị cho là quan trọng theo cách họ sử dụng thời gian và sự chú ý của họ tới cách thức sử dụng các hành vi mang tính biểu tượng.Điều mà các nhà quản trị làm quan trọng hơn rất nhiều so với những gì họ nói. Nhân viên:Những điều mà công ty thực hiện để phát triển đội ngũ nhân viên và tạo cho họ những giá trị cơ bản. Kỹ năng:Những đặc tính hay năng lực gắn liền với một tổ chức.
Mục tiêu cao cả:Những giá trị thể hiện trong sứ mạng và các mục tiêu.Những giá trị này được chia sẻ bởi các thành viên trong tổ chức SV: Nguyễn Thị Huyền GVHD: Ths. Nguyễn Thị Mỹ Nguyệt Khóa luận tốt nghiệp 9 Khoa quản trị Doanh nghiệp 1. MÔ HÌNH VÀ PHÂN ĐỊNH NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mô hình nghiên cứu Xác định mục tiêu dài hạn Xác định chiến lược kinh doanh đang theo đuổi Phân tích triển khai chiến lược Các chính sách triển khai chiến lược kinh doanh Xây Xây Xây Xây Xây Xây chính chính Chính dựng dựng dựng dựng dựng dựng sách sách sách chính chính chính chính chính chính tuyển đào đãi sách sách sách sách sách sách dụng tạo ngộ phân định MKT giá phân xúc nhân nhân nhân đoạn vị sản phối tiến sự sự sự thị sản phẩm trường phẩm Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá Hình 1.2: Mô hình nghiên cứu của đề tài 1.
Phân tích nội dung nghiên cứu 1. Xác định mục tiêu và chiến lược kinh doanh mà công ty đang theo đuổi Là toàn bộ kết quả cuối cùng hay trạng thái mà doanh nghiệp muốn đạt tới trong SV: Nguyễn Thị Huyền GVHD: Ths. Nguyễn Thị Mỹ Nguyệt Khóa luận tốt nghiệp 10 Khoa quản trị Doanh nghiệp một khoảng thời gian nhất định. Mục tiêu của chiến lược là kết quả cụ thể của doanh nghiệp cần đạt được khi thực hiện chiến lược.
Thông thường các doanh nghiệp chia mục tiêu thành hai loại: mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn. Mục tiêu ngắn hạn: các mục tiêu ngắn hạn phải đảm bảo để đạt được các mục tiêu dài hạn của chiến lược tổng thể. Nhà quản trị phải đảm bảo rằng việc thực hiện các nhiệm vụ và mục tiêu ngắn hạn vào bối cảnh của chiến lược chung nhằm đạt được mục tiêu dài hạn. Thường thì các mục tiêu được công bố và phổ biến rõ ràng dưới hình thức như sự tăng thị phần, tăng doanh thu, tăng khả năng sinh lợi nhuận… Mục tiêu dài hạn: theo nghĩa chung nhất là thực hiện tầm nhìn và mục tiêu chiến lược thể hiện trong bản tuyên ngôn sứ mệnh là lời phát ngôn rõ ràng và tham vọng mà doanh nghiệp theo đuổi.
Như vậy mục tiêu chiến lược là đích đến mong muốn đạt tới cảu doanh nghiệp. Nó là sự cụ thể hóa của doanh nghiệp về hướng, quy mô và trình tự tiến hành theo thời gian. Trong nên kinh tế thị trường nhìn chung các doanh nghiệp theo đuổi ba mục đích chủ yếu đó là tồn tại, phát triển và đa dạng hóa. Vì vậy mỗi doanh nghiệp cần phải xác định cho mình mục tiêu chiến lược chung cũng như các mục tiêu chiến lược cụ thể để triển khai thành hoạch các chiến lược kinh doanh và tập trung nguồn lực thực hiện chúng sao cho phù hợp với từng giai đoạn từng thời điểm cũng như môi trường của doanh nghiệp để tối đa hóa hiệu quả chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp.