Chương I: Mô hình công ty mẹ - công ty con và sự chuyển đổi tổng công ty nhà nước theo mô hình công ty mẹ - công ty con; - Chương II: Thực trạng chuyển đổi mô hình công ty mẹ - công ty con tại Công ty TNHH một thành viên Thuốc lá Thăng Long; - Chương III: Một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát triển mô hình Công ty mẹ - Công ty con tại Công ty TNHH một thành viên Thuốc lá Thăng Long. 6 CHƢƠNG I MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON VÀ SỰ CHUYỂN ĐỔI TỔNG CÔNG TY NHÀ NƢỚC SANG MÔ HÌNH CÔNG TY MẸ - CÔNG TY CON 1. Khái quát về mô hình công ty mẹ - công ty con 1. Khái niệm về công ty mẹ - công ty con Cho đến nay, khái niệm về công ty mẹ, công ty con ở các nước cũng đã thay đổi theo thời gian và không gian.
Theo diễn giải của chuẩn mực kế toán quốc tế ISA (International Accounting Standard)5, công ty mẹ (Parent company) là một thực thể pháp lý có ít nhất một đơn vị trực thuộc – công ty con (Subsidiary). Công ty con là thực thể pháp lý bị kiểm soát bởi công ty mẹ. Kiểm soát ở đây có thể hiểu là: (1) sở hữu trực hoặc gián tiếp nhiều hơn 50% số phiếu bầu; hoặc (2) sở hữu 50% số phiếu bầu hoặc ít hơn nhưng nắm quyền đối với hơn 50% số phiều bầu theo sự thỏa thuận với các cổ đông khác; hoặc nắm quyền lãnh đạo, điều hành liên quan đến các chính sách tài chính hay sản xuất kinh doanh của công ty và được qui định tại điều lệ, theo sự thỏa thuận hay hợp đồng; hoặc có quyền bổ nhiệm hay miễn nhiệm phần lớn các thành viên của hội đồng quản trị, ban lãnh đạo; hay có quyền quyết định, định hướng đến phần lớn số phiếu bầu tại các cuộc họp hội đồng quản trị, ban lãnh đạo. Theo Luật công ty của Liên bang Nga năm 1995, một công ty được gọi là công ty con (tiếng Nga gọi là Dotchernie) nếu do một công ty khác – công ty mẹ (Osnovnoe) nắm giữ cổ phần khống chế trong vốn điều lệ hoặc bị công ty khác chi phối các quyết định của mình hoặc bằng một thoả thuận chính thức hay dưới hình thức nào đó.
Luật không qui định một cách cụ thể thế nào là cổ phần khống chế và không nêu cụ thể hình thức hợp đồng, thỏa thuận như thế nào liên quan đến việc chi phối các quyết định của công ty con. 5 Than khảo Danh mục IAS 22.8 7 Theo Luật Doanh nghiệp 2014 tại Việt Nam thì một công ty được coi là công ty mẹ của công ty khác nếu thuộc một trong các trường hợp sau: “ - Sở hữu trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần phổ thông của công ty đó; - Có quyền trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định bổ nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của công ty đó” ( Điều 189). Mỗi khái niệm có cách diễn đạt khác nhau, nhìn chung có thể hiểu Công ty mẹ là bất kỳ công ty nào sở hữu vốn ở các công ty khác, ở mức đủ để kiểm soát hoạt động quản lý và điều hành công ty được sở hữu vốn – hay còn gọi là công ty con. Nói cách khác, Công ty mẹ là doanh nghiệp được thành lập và đăng ký theo pháp luật, có tư cách pháp nhân, có khả năng trong một hoặc một số lĩnh vực liên quan đến hoạt động kinh doanh đủ để chi phối các công ty khác trong mô hình công ty mẹ - công ty con hay trong tập đoàn và được các công ty con chấp nhận bị chi phối.
Các đặc trƣng pháp lý về công ty mẹ - công ty con Thứ nhất, công ty mẹ - công ty con là một nhóm các công ty, trong đó mỗi công ty là một pháp nhân độc lập, có bộ máy điều hành quản lý riêng và tự chịu trách nhiệm về các khoản nợ cũng như các nghĩa vụ tài sản của mình. Thứ hai, quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con được thiết lập trên cơ sở sở hữu vốn. Điều này có nghĩa là, công ty mẹ đầu tư toàn bộ hoặc đầu tư phần vốn góp chi phối vào công ty con. Tùy theo pháp luật của mỗi nước và điều lệ của từng công ty quy định mà mức chi phối được thể hiện ở tỷ lệ vốn góp.
Thông thường, công ty mẹ chiếm từ 50% trở lên vốn góp của công ty con. Ngoài mối quan hệ về sở hữu, các mối quan hệ khác về kinh tế như mua – bán, thuê – cho thuê đều là mối quan hệ giữa hai pháp nhân kinh tế. Thứ ba, công ty mẹ nắm giữ quyền chi phối, kiểm soát công ty con tương ứng với tỷ lệ vốn góp. Việc kiểm soát, chi phối của công ty mẹ thể hiện ở việc tác động tới các quyết định quan trọng của công ty con thông qua người đại diện phần vốn góp hay người trực tiếp quản lý phần vốn của công ty mẹ tại công ty con.
8 Thứ tư, mỗi công ty mẹ có thể có nhiều công ty con nhưng mỗi công ty con chỉ có một công ty mẹ. Và các công ty con có thể tiếp tục đầu tư vào các công ty con khác. Thứ năm, trách nhiệm của công ty mẹ đối với công ty con là trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi phần vốn góp hay cổ phần của công ty mẹ ở công ty con. Quyền và trách nhiệm của công ty mẹ với công ty con Quyền và trách nhiệm của công ty mẹ với công ty con đã được pháp luật Việt Nam làm rõ.
Cụ thể, theo Điều 190 Luật Doanh nghiệp năm 2014, công ty mẹ có các quyền và trách nhiệm cụ thể sau đây đối với công ty con: – Tùy thuộc vào loại hình pháp lý của công ty con, công ty mẹ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách là thành viên, chủ sở hữu hoặc cổ đông trong quan hệ với công ty con theo quy định tương ứng của và quy định khác của pháp luật có liên quan; – Hợp đồng, giao dịch và quan hệ khác giữa công ty mẹ và công ty con đều phải được thiết lập và thực hiện độc lập, bình đẳng theo điều kiện áp dụng đối với các chủ thể độc lập. – Trường hợp công ty mẹ can thiệp ngoài thẩm quyền của chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông và buộc công ty con phải thực hiện hoạt động kinh doanh trái với thông lệ kinh doanh bình thường hoặc thực hiện hoạt động không sinh lợi mà không đền bù hợp lý trong năm tài chính có liên quan, gây thiệt hại cho công ty con thì công ty mẹ phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó; – Người quản lý của công ty mẹ chịu trách nhiệm về việc can thiệp buộc công ty con thực hiện hoạt động kinh doanh quy định tại khoản 3 Điều này phải liên đới cùng công ty mẹ chịu trách nhiệm về các thiệt hại đó; – Trường hợp công ty mẹ không đền bù cho công ty con theo quy định tại khoản 3 Điều này thì chủ nợ hoặc thành viên, cổ đông có sở hữu ít nhất 1% vốn điều lệ của công ty con có quyền nhân danh chính mình hoặc nhân danh công ty con đòi công ty mẹ đền bù thiệt hại cho công ty con; 9 Trường hợp hoạt động kinh doanh như quy định tại khoản 3 Điều này do công ty con thực hiện đem lại lợi ích cho công ty con khác của cùng một công ty mẹ thì công ty con được hưởng lợi đó phải liên đới cùng công ty mẹ hoàn trả khoản lợi được hưởng đó cho công ty con bị thiệt hại. Như vậy, có thể thấy công ty mẹ và công ty con là những chủ thể độc lập nên mọi hoạt động kinh doanh chéo nhau đều có hợp đồng giao dịch riêng. Đối với mọi hoạt động can thiệp mang tính chất kiểm soát, chi phối của công ty mẹ cũng được pháp luật quy định rõ trong khuôn khổ cho phép, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của công ty con.
Mối quan hệ chi phối giữa công ty mẹ và công ty con 1. Mối quan hệ chi phối về vốn Qua việc nắm phần vồn góp/cổ phần chi phối, công ty mẹ thực hiện quyền lãnh đạo đối với các công ty con bằng việc đưa ra các quyết sách về nhân lực, vật lực, sản xuất, cung ứng, tiêu thụ sản phẩm… Các quyết định này, tùy thuộc vào hình thức pháp lý của công ty con, có thể được đưa ra trên cơ sở các cuộc họp của hội đồng thành viên hoặc của đại hội đồng cổ đông. Mối quan hê chi phối về sản xuất kinh doanh Công ty mẹ là doanh nghiệp đầu đàn trong lĩnh vực kinh doanh ở một ngành nghề nào đó, mạnh về vốn,tài sản, có tiềm năng lớn về công nghệ và kỹ thuật, có nhiều uy tín, đi tiên phong trong việc khai thác thị trường, liên kết, liên doanh, làm đầu mối thực hiện các dự án lớn. Công ty mẹ thực hiện chức năng trung tâm như xây dựng chiến lược, nghiên cứu phát triển, huy động và phân bổ vốn đầu tư, đào tạo nhân lực, sản xuất những sản phẩm nổi tiếng, tổ chức phân công giao việc cho các công ty con trên cơ sở hợp đồng kinh tế,… Như vậy công ty mẹ vừa hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa thực hiện hoạt động đầu tư vốn vào các công ty con khác, vừa là đơn vị trực tiếp sản xuất kinh doanh, vừa có chức năng chỉ đạo và hợp tác với các công ty con về thị trường, kỹ thuật, định hướng phát triển.
Sự phối hợp và kiểm soát giữa công ty mẹ và công ty con được thực hiện thông qua chiến lược sản phẩm và kế hoạch kinh doanh đồng bộ từ trên xuống dưới. Các mối quan hệ khác Ngoài chi phối về vốn và chi phối về sản xuất kinh doanh, công ty mẹ còn có thể chi phối công ty con trên các khía cạnh khác như: - Mối quan hệ chi phối về tổ chức cán bộ: do công ty mẹ quyết định việc phân công, bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ quản lý của công ty con. - Mối quan hệ chi phối về quyền sửa đổi, bổ sung Điều lệ của doanh nghiệp. - Mối quan hệ chi phối về bí quyết công nghệ, thương hiệu: công tymẹ có thể sử dụng lợi thế thương hiệu, bí quyết công nghệ của công ty con.
- Mối quan hệ chi phối về thị trường: công ty mẹ có quyền sử dụng thị trường của công ty con nhằm mục đích phục vụ cho công tác tiêu thụ sản phẩm của mình theo thỏa thuận nhất định giữa hai bên.