CHƯƠNG 1: C ơ SỞ KHOA HỌC VÊ CHÍNH SÁCH THUẾ ĐẤT ĐAI 1. Khái niệm và đặc điểm của chính sách thuế đất đai Khái niệm thuế: có nhiều quan niệm về thuế với các mục đích, hàm ý mô tả khác nhau. Nhưng nhìn chung, thuế được hiểu là khoản đóng góp bắt buộc của các tổ chức, cá nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn do pháp luật quy định và thuế được sử dụng cho các mục đích công cộng theo các chương trình, kế hoạch chi tiêu của Nhà nước. Khoản đóng góp này được lấy ra từ kết quả hoạt động kinh tế của các đối tượng nộp thuế, hoặc có thể được lấy từ một phần lợi ích mà họ được hưởng.
Để thực hiện quá trình tái sản xuất mở rộng, thu nhập được thể hiện qua những hình thái khác nhau, tương ứng với những hình thái đó, Nhà nước thường sử dụng các loại thuế khác nhau để quản lý, điều tiết tất cả các khoản thu nhập, cũng như quá trình vận động của thu nhập và các dạng tồn tại khác nhau của thu nhập. Khái niệm thuế đất đai: là một phần thu của Nhà nước mang tính bắt buộc, đánh vào việc sử dụng hoặc có quyền sử dụng, sở hữu đất và đánh vào hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ngoài việc tạo nguồn thu cho Nhà nước, thuế được sử dụng để điều chỉnh giá thị trường, để chống đầu cơ, để khuyến khích đầu tư, để tạo công bằng xã hội, để thực hiện quy hoạch, để phân bố dân cư. Khái niệm chính sách thuế đất đai: là hệ thống các quan điểm, chủ trương, giải pháp, công cụ của Nhà nước để giải quyết chủ trương đó.
Luật thuế đất đai: là công cụ pháp lý để thực hiện mục tiêu mà chính sách đưa ra. 5 Các loại thuế đất đai: - Thuế nhà, đất: Thuế nhà, đất là khoản thu mà người sử dụng đất ở phải nộp hàng năm khi sử dụng đất làm nhà ở, xây dựng công trình. Thuế nhà, đất nói chung và thuế đất nói riêng thuộc loại thuế tài sản và có tính chất trực thu. Người chủ sở hữu nhà và người sử dụng đất là người nộp thuế nhà, đất và cũng chính là người chịu khoản thuế này.
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp: Thuế sử dụng đất nông nghiệp là loại thuế thu vào việc sử dụng đất nông nghiệp hoặc việc được giao đất vào sản xuất nông nghiệp. Nói cách khác, loại thuế này đánh vào hành vi sử dụng đất nông nghiệp và hành vi không sử dụng đất nông nghiệp được giao. Trong trường họp thứ hai thì thuế sử dụng đất nông nghiệp áp dụng cả với những chủ thể có quyền sử dụng đất nông nghiệp mà không sử dụng đất đó. - Thuế chuyển quyền sử dụng đất: Đây là loại thuế trực thu, thuế thu với những tổ chức, gia đình, cá nhân đang có quyền sử dụng đất mà chuyển quyền sử dụng đất cho người khác.
Là thuế đánh một lần khi phát sinh hành vi bán (chuyển nhượng quyền sử dụng) đất. Đây là loại thuế phát sinh không thường xuyên mà phụ thuộc vào phát sinh giao dịch. - Thuế TNDN đối với hoạt động chuyển nhượng đất đai: đây là loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập từ giá trị tăng thêm qua việc chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai của các tổ chức, cơ sở kinh doanh. Thuế phát sinh không thường xuyên, phụ thuộc vào phát sinh giao dịch.
- Thuế TNCN đối với hoạt động chuyển nhượng đất đai: đây là loại thuế trực thu, đánh vào thu nhập từ giá trị tăng thêm qua việc chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng đất đai của các cá nhân. Thuế phát sinh không thường xuyên, phụ thuộc vào phát sinh giao dịch. 6 - Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp: là loại thuế trực thu hàng năm đối với các đối tuợng sử dụng đất vào các mục đích như: đất ở, đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, đất xây dựng khu công nghiệp, đất giao thông, thủy lợi,. Đặc điểm của thuế đất đai: Chính sách thuế đất đai thường bao gồm nhiều sắc thuế, mang nhiều đặc điểm chung của thuế như: là thuế trực thu, không mang tính hoàn trả trực tiếp, tính bắt buộc, tính pháp lý ,.thuế đất đai còn có một số đặc điểm riêng sau: - Thuế đất đai là nguồn thu mang tính ổn định và bền vững của NSNN.
Đặc điểm này xuất phát từ tính ổn định không thể di dời và tính lâu bền của đất đai. Ở nước ta, ngay cả các triều đại Phong kiến, Nhà nước Phong kiến đã áp dụng chính sách trả lương cho các quan lại bằng đất như thái ấp, lộc điền. Nhà nước Phong kiến dựa vào nguồn thu chủ yếu nhất là thuế đinh (thu đối với đàn ông từ 18 tuổi trở lên) và thuế điền thu vào việc sử dụng đất. Ngày nay khi mà nền kinh tế đã phát triển sản phẩm xã hội được tạo ra chủ yếu bởi các ngành công nghiệp và các ngành khác nhưng nguồn thu từ thuế đất đai vẫn là một nguồn thu ổn định và quan trọng của các cấp ngân sách, nhất là các địa phương.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, thị trường BĐS ngày càng phát triển mạnh, làm gia tăng số thu NSNN từ thuế trong lĩnh vực đất đai (bao gồm cả sử dụng và kinh doanh đất đai). - Việc định giá đất (hay quyền sử dụng đất) để tính thuế là một vấn đề khó. Giá cả của hầu hết các hàng hóa trong nền kinh tế đều có cơ sở là chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, nhưng đối với đất đai không thể xác định chính xác được vì giá trị của chúng còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Cơ sở của thuế đất đai là tổng giá trị của đất đai hay giá trị tăng thêm của nó.
Việc định giá đất đai có thể được thực hiện một lần để xác định cho nhiều kỳ tính thuế 7 hoặc xác định cho từng lần chuyển nhượng để tiến hành tính thuế, tùy thuộc vào từng loại thuế và Luật thuế đất đai của từng nước. Độ chính xác của việc định giá đất đai sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới số thuế phải nộp của các đối tượng nộp thuế. - Thuế đất đai có tính phức tạp về nguồn gốc, vị trí và giấy tờ. Công tác lưu trữ hồ sơ địa chính, hệ thống thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai là nền tảng cho việc xác nhận nguồn gốc đất.
Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về đất đai còn ít do đó khó cho việc xác nhận nguồn gốc đất đai. v ề vị trí của đất đai, đất đồng bằng, đất đồi núi, đất biển, đất ở nông thôn, thành thị giá tính thuế khác nhau. Việc xác định vị trí đất cũng gặp nhiều khó khăn như nhiều khu đất liền kề nhau nhưng lô đất 1 thuộc thành phố, lô đất 2 liền kề thuộc huyện thì việc tính giá đất cũng khác nhau. - Thuế đất đai dựa trên nguyên tắc đánh thuế theo lợi ích.
Nhà, đất và các công trình kiến trúc khác được bảo tồn, phát triển và sinh lời là nhờ được thừa hưởng nhiều lợi ích từ các dịch vụ công của Nhà nước. Ví dụ, giá trị của nhà, đất có thể tăng lên nhiều do Nhà nước cải tạo, mở rộng hệ thống đường giao thông, điện, nước,. mà không cần có sự đầu tư của người nắm giữ đất. Vì vậy, người có đất đai phải có trách nhiệm đóng góp cho NSNN để Nhà nước có thêm nguồn trang trải các khoản chi đầu tư cơ sở hạ tầng.
-Thuế đất thường dễ hành thu hơn so với nhiều loại thuế khác. Đất đai thường là những tài sản có giá trị lớn và có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống của mỗi người. Chính vì thế, người có quyền sở hữu, sử dụng đất thường có tâm lý muốn được Nhà nước công nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của mình đối với đất đai của họ, và khi các chủ thể có đất thuộc diện chịu thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, sẽ có lợi thế lớn trong việc được Nhà nước công nhận hay đề nghị Nhà nước công nhận quyền hợp 8 pháp cho họ đối với đ ất đai đó. Điều này đã góp phần làm cho việc thu thuế đánh vào đất đai dễ dàng hơn.
Vai trò của chính sách thuế đất đai 1. Nguồn thu ấn định, bền vững của ngân sách địa phương Đất đai gắn liền với mỗi địa phương và chịu sự quản lý trực tiếp của địa phương đó. Nguồn thu từ đất thường được các quốc gia để lại cho ngân sách địa phương hưởng 100%. Thuế đất đai là một công cụ hấp dẫn trong việc tạo nguồn lực cho địa phương, thường chiếm chủ yếu trong tổng số thu từ thuế tài sản.
Đất đai thuộc loại tài sản cố định, không thể di chuyển, ít khả năng trốn lậu thuế, dễ quản lý thu thuế, có thể ước tính số thu tương đổi ổn định, việc thay đổi thuế suất không gây tác động đến giá cả, tiêu dùng xã hội. Do đó, chính quyền địa phương có nhiều điều kiện sâu sát nắm bắt biến động về sử dụng đất để quản lý, thu thuế, xử lý vi phạm thích họp về thuế đánh vào đất đai. Thuế đánh vào đất đai cũng là nguồn thu chủ yếu nhằm đáp ứng các nhu cầu dịch vụ công cộng, thường khác nhau giữa các địa phương về khoản chi, về thứ tự ưu tiên, về quy mô chi tiêu,. Khi thấy số thuế đã nộp được sử dụng vào những chi tiêu thiết thực của chính quyền địa phương, người nộp thuế sẽ phấn khởi, đồng tình ủng hộ và hỗ trợ tích cực cho công tác thu thuế.
Chính quyền địa phương cũng sẽ hăng hái, tích cực chỉ đạo để công tác quản lý thu thuế ngày một tốt hơn. Công cụ của Nhà nước góp phần thực hiện quản lỷ đất đai và thị trường bất động sản Từ việc ban hành các sắc thuế đến việc triển khai thực hiện cùng với việc thanh tra thuế, hệ thống thuế đất đai, chính quyền các cấp đã nắm vững được số lượng mà từng tổ chức, cá nhân nắm giữ, cũng như số lần chuyển nhượng 9 đất đai. Trên cơ sở đó, Nhà nước có thể chủ động trong việc điều tiết cung, cầu cũng như các giao dịch trên thị trường bất động sản. Mặt khác, thông qua việc chấp hành các sắc thuế trong lĩnh vực này sẽ phát hiện những vụ việc vi phạm pháp luật hoặc phát hiện những bất cập, vướng mắc trong hoạt động của thị trường bất động sản để có biện pháp xử lý kịp thời.