CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM DỊCH VỤ 1. Sản phẩm – Dịch vụ 1. Khái niệm Marketing dịch vụ và Sản phẩm dịch vụ 1. Khái niệm Marketing dịch vụ Phạm Thị Huyền & Nguyễn Hoài Long (2018) cho rằng marketing dịch vụ là tập hợp những tư tưởng marketing, cấu trúc cơ chế, quy trình và những hoạt động nhằm tạo ra, truyền thông và phân phối những giá trị và lợi ích cho người tiêu dùng, khách hàng, đối tác và xã hội nói chung.
Bản chất của marketing dịch vụ là việc tạo ra sự trải nghiệm cho đối tượng thụ hưởng mặc dù quá trình thực hiện dịch vụ có thể gắn liền với mọt sản phẩm vật chất nào đó nhưng việc hực hiện mang tính chất vô hình và khách hàng thường không nắm quyền sở hữu với bất cứ thành phần vật chất nào có liên quan. Khái niệm Sản phẩm dịch vụ Sản phẩm dịch vụ được định nghĩa bao gồm tất cả các yếu tố hữu hình và vô hình mà bên bán cung cấp cho khách hàng với một mức giá nhất định. Các công cụ của Marketing dịch vụ 1. Quyết định sản phẩm dịch vụ: Các quyết định sản phẩm dịch vụ bao gồm: Năm cấp độ sản phẩm dịch vụ gồm có lợi ích chính, sản phẩm cơ bản, sản phẩm mong muốn, sản phẩm gia tăng và sản phẩm tiềm năng.
Ở ba cấp độ đầu tiên, sản phẩm cần được xác định là đáp ứng được mong đợi của khách hàng. Sản phẩm dịch vụ không thể vượt quá mong đợi của khách hàng nếu không thực sự đáp ứng họ ở mức đầu tiên. Cấp độ sản phẩm gia tăng thực sự bổ sung giá trị cho sản phẩm và bắt đầu phân biệt nó với đối thủ cạnh tranh. Cấp độ cuối cùng là nơi xác định các tính năng và lợi ích mà có thể thêm vào sản phẩm của mình trong tương lai.
Đây là chìa khóa để sản phẩm đổi mới để vượt lên trên đối thủ cạnh tranh. Năm cấp độ sản phẩm được ứng dụng trong lĩnh vực dịch vụ với tư cách là cá yếu tố tạo ra giá trị chuyển giao cho khách hàng. 4 Các quyết định đặc trưng về sản phẩm bao gồm quyết định về các thuộc tính của dịch vụ cốt lõi và các quyết định về yếu tố dịch vụ bổ sung. Dịch vụ cốt lõi là lý do cũng như động cơ chính để khách hàng tìm mua sản phẩm dịch vụ, đây cũng là dịch vụ sẽ thỏa mãn nhu cầu chính của khách hàng.
Dịch vụ bổ sung có thể nằm trong hệ thống dịch vụ cơ bản, bổ sung cho dịch vụ cơ bản và tăng thêm lợi ích cốt lõi hoặc có thể là những dịch vụ độc lập mang lại lợi ích phụ thêm cho khách hàng. Chất lượng dịch vụ và yếu tố không thể thiếu khi ra quyết định về dịch vụ. Chất lượng là yếu tố quan trọng mà khách hàng đánh giá và so sánh giữa các dịch vụ cạnh tranh. Hàng hoá hữu hình có thể được thiết kế và sản xuất theo một tiêu chuẩn định lượng trước.
Tuy nhiên, đối với dịch vụ, do rất khó đo lường chất lượng, khó xác định mức độ quan trọng của các yếu tố chất lượng đối với khách hàng, và do đó khó quản lý, duy trì chất lượng dịch vụ đồng đều. Bản chất vô hình của dịch vụ làm cho nhà cung cấp dịch vụ khó khăn khi thiết kế dịch vụ sao cho khách hàng chấp nhận được. Các mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ và phương pháp tiếp cận nghiên cứu, đánh giá chất lượng dịch vụ. Có hai phương pháp tiếp cận, nghiên cứu chất lượng dịch vụ bao gồm: phương pháp định tính và phương pháp định lượng.
Phương pháp nghiên cứu dữ liệu định tính nhằm xác định các đặc tính của sự vật hay hiện tượng và chú trọng đến sự hiểu biết là chủ yếu. Phương pháp nghiên cứu định lượng là việc thông qua điều tra hay khảo sát đo lường các đặc tính của sự vật hiện tượng hay đo lường sự cảm nhận của khách hàng về các dịch vụ mà họ nhận được. Ngoài ra, hai mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ được quan tâm nhiều nhất là mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ của Parasuraman (1985) và mô hình chất lượng dịch vụ của Gronroos (1984). Những định hướng trong việc nâng cao chất lượng dịch vụ là nền tảng giúp cho việc ra quyết định về chất lượng dịch vụ; doanh nghiệp thường phải đối mặt với yêu cầu phải phát triển dịch vụ mới, các hướng phát triển dịch vụ mới được giới thiệu là cơ sở cho việc ra quyết định việc phát triển dịch vụ như một sản phẩm mới và vấn đề thương hiệu dịch vụ.
Quyết định giá dịch vụ: Quá trình định giá dịch vụ được chi phối bởi một số đặc điểm đặc thù như: tính phức tạp trong xác định chi phí sản xuất dịch vụ, tính vô hình của dịch vụ, tính khó so sánh giá dịch vụ giữa các nhà cung ứng và sự tác động của giá dịch vụ tới tương quan cung – cầu dịch vụ ở những thời điểm và khoảng thời gian nhất định. Phương pháp định giá dịch vụ phải phản ánh được những đặc điểm riêng như xác định được các chỉ tiêu chi phí làm cơ sở cho mức gí dịch vụ, đánh giá giá trị cảm nhận của khách hàng về dịch vụ và phản ánh yếu tố cạnh tranh trong dịch vụ khi áp dụng các phương pháp định giá dựa trên chi phí, giá trị cảm nhận và giá sản phẩm cạnh tranh. Mối quan hệ giữa giá cả và giá trị cảm nhận trong định giá dịch vụ là mối quan hệ phức tạp do tính đặc thù của giá trị cảm nhận về dịch vụ mà khách hàng đánh giá có liên quan đến các yếu tố cấu thành chi phí sử dụng dịch vụ ở người tiêu dùng. Vì vậy nhà quản trị giá cần cân nhắc các giải pháp tăng cường sự cảm nhận về giá trị của dịch vụ khi khách hàng quyết định mua và sử dụng dịch vụ.
Quản trị giá dịch vụ với các giai đoạn chung như xác lập mức giá cơ bản, hình thành các mức giá cụ thể và quản lý giá dịch vụ cần được tiến hành phù hợp với đặc điểm của dịch vụ và định giá dịch vụ. Quản trị doanh thu đang là một trong những nội dung quan trọng của quản lý giá dịch vụ của doanh nghiệp. Quyết định phân phối dịch vụ: Có ba phương thức cung ứng dịch vụ là khách hàng phải đến với nhà cung ứng dịch vụ, nhà cung ứng dịch vụ đến tận nơi khách hàng, khách hàng và nhà cung ứng dịch vụ có thể giao tiếp thông qua các phương tiện như điện thoại, điện tử, mạng… Quyết định của doanh nghiệp về địa điểm phân phối dịch vụ liên quan đến việc xác định vị trí để cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp tới khách hàng cũng như xác định số lượng địa điểm để tiến hành phân phối dịch vụ ở một địa điểm phân phối đơn lẻ hoặc phân phối nhiều địa điểm cho dịch vụ của doanh nghiệp. 6 Một số yếu tố tạo thuận lợi cho việc mở rộng giờ cung ứng dịch vụ là sức ép về mặt kinh tế đối với kahcsh hàng, lợi ích kinh tế từ việc tận dụng nguồn lực cung ứng dịch vụ, nhiều người lao động sẵn sàng làm việc ngoài giờ và sự phst tireenr các thiết bị tự phục vụ tự động, Nhà cung ứng dịch vụ cũng cần thực hiện các hoạt động quản lý cung và cầu dịch vụ để đảm bảo yếu tố thời gian trong cung ứng dịch vụ.
Trung gian có vai trò rất lớn trong việc phát triển và mở rộng dich vụ đáp ứng yêu cầu về thời gian và không gian cho các khách hàng. Tuy nhiên, đảm bảo được vấn đề chất lượng và tính nhất quán trong cung ứng dịch vụ là vấn đề cần phải quản lý trong việc sử dụng trung gian. Có hai hình thức trung gian trong phân phối dịch vụ là nhượng quyền và cấp phép, tuy nhiên, hình thức phổ biến hơn là nhượng quyền. Mức độ nhượng quyền cũng tương đối đa dạng từ việc để trung gian thực hiện các dịch vụ bổ sung hoặc hỗ trợ đến thực hiện cả các dịch vụ cốt lõi cho doanh nghiệp tùy theo hợp đồng thỏa thuận giữa hai bên.
Sự phát triển của công nghệ những năm gần đây ảnh hưởng mạnh mẽ đến cách mà dịch vụ được tạo ra và phân phối, tới chiến lược marketing dịch vụ về phương thức cung ứng dịch vụ, địa điểm, không gian và thời gian cung ứng dịch vụ. Theo đó, các khách hàng quan tâm đến tốc dộ, lịch trình và truy cập điện tử bên cạnh những khái niệm truyền thống về vị trí tự nhiên, giao tiếp trực tiếp… vì vậy tạo ra sự cạnh tranh giữa dịch vụ truyền thống và dịch vụ sử dụng công nghệ. Quyết định truyền thông dịch vụ: Truyền thông dịch vụ được thực hiện theo nguyên tắc của hoạt động truyền thông marketing. Truyền thông dịch vụ ảnh hưởng cả trực tiếp và gián tiếp đến hành vi của khách hàng và công chúng nhận tin mực tiêu.
Ảnh hưởng trực tiếp có thể được thực hiện bằng các kích thích thông qua thông điệp truyền thông. Trong khi ảnh hưởng gián tiếp phụ thuộc vào vai trò, khả năng nhận thức của khách hàng trước các thông điệp được cung cấp bởi doanh nghiệp. Các chức năng truyền thông như tương tác, thiết lập quan hệ và xây dựng thương hiệu sẽ có ảnh hưởng lớn đến quá trình nhận thức của khách hàng và công 7 chúng mục tiêu, bởi nó cung cấp những thông tin quan trọng về thương hiệu và là phương pháp tiếp cận khách hàng để phát triển và phân tích thuộc tính, lợi ích và giá trị của thương hiệu. Truyền thông thương hiệu thúc đẩy hình ảnh hương hiệu trong đó mô tả nhận thức của công chúng mục tiêu về một thương hiệu nhất định và là một yếu tố quan trọng đóng góp vào tài sản, giá trị tài chính của một thương hiệu.
Để phát triển hình ảnh thương hiệu cho doanh nghiệp cần tiếp cận chuỗi phương tiện mà trong đó có sự tham gia tương tác của khách hàng, bởi các thuộc tính lợi ích và gí trị thương hiệu có thể được xác định bởi truyền thông. Có ba loại công cụ khác nhau của truyền thông dịch vụ, đó là: truyền thông cá nhân, truyền thông tùy chỉnh và truyền thông đại chúng. Trong đó, truyền thông cá nhân có thể là hình thức bán hàng chuyên nghiệp hay sự tham gia của khách hàng với các cá nhân khác nhau. Truyền thông tùy chỉnh được cá doanh nghiệp sử dụng trong tuyền thông tương tác trực tiếp hay qua internet, trên cơ sở thực hiện một giao tiếp khác biệt đối với một nhóm công chúng mục tiêu cụ thể.