CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP NGÀNH NHỰA 1. Các khái niệm chung 1. Khái niệm về nguồn nhân lực Theo dòng lịch sử kinh tế thế giới, khái niệm NNL đã xuất hiện từ khá lâu, tuy nhiên do có nhiều cách tiếp cận khác nhau và có sự cách biệt về trình độ nền kinh tế, văn hoá - xã hội, đã tạo ra nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về NNL. Theo Phạm Minh Hạc (2001): “NNL là tổng thể các tiềm năng LĐ của một nước hoặc một địa phương, tức nguồn LĐ được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một CV LĐ nào đó, tức là những NLĐ có kỹ năng (hay khả năng nói chung), bằng con đường đáp ứng được yêu cầu của cơ chế chuyển đổi cơ cấu LĐ, cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.
Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007), các tác giả cho rằng nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi người, được bao gồm trí lực và thể lực. Trí lực là nói đến suy nghĩ, quan điểm sự tiếp thu kiến thức, sự hiểu biết, tài năng, năng khiếu, lòng tin, đạo đức,… Thể lực là nói đến sức khỏe mỗi người, là sức vóc, điều kiện và môi trường sống,… Như vậy, từ các định nghĩa trên, có thể rút ra được nội dung cơ bản đó là: NNL chính làl nguồn cung sức LĐ cho xã hội. Với tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất cốt yếu, con người vừa là nguồn lực cơ bản, đồng thời là nguồn lực vô tận của sự phát triển cả về lượng và chất; không chỉ bao gồm bộ phận người dân trong độ tuổi LĐ mà còn là các thế hệ con người với những sức mạnh, tiềm năng có khả năng cải tạo tự nhiên và xã hội. Từ đó, ta càng hiểu hơn về quan điểm: Nhân lực của một đơn vị/tổ chức sẽ gồm tất cả những người làm việc trong tổ chức/đơn vị đó, có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một khối sức mạnh đồng lòng hoàn thành mọi nhiệm vụ, mục tiêu của tổ chức/đơn vị nếu được khuyến khích, động viên.
Khái niệm về quản lý nguồn nhân lực Có rất nhiều quan điểm về quản lý NNL (còn được gọi là quản lý nhân sự, quản trị nhân lực). Quản lý NNL là nhiệm vụ trọng yếu hàng đầu của các doanh nghiệp, quyết định và ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Theo Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân (2007), các tác giả cho rằng: Quản trị nhân lực bao gồm một hệ thống lớn các lý luận, chính sách và chương trình, hoạt động nhằm thu hút, ĐT - phát triển và duy trì con người – NNL của một đơn vị/tổ chức để đạt được KQ tối ưu nhất đối với tổ chức và nhân viên”. Còn Trần Kim Dung (2013) cho rằng: Quản lý NNL là một quá trình nghiên cứu, tổ chức sử dụng các khoa học kỹ thuật và các lý luận về quản trị với mục đích đạt được chiến lược tổ chức, qua việc thường xuyên tìm kiếm NNL, điều phối, kiểm tra, thực hiện chế độ tiền lương, phúc lợi, thưởng phạt phù hợp nhằm sử dụng NNL một cách hiệu quả.
Từ góc nhìn chung nhất, có thể hiểu:“quản lý NNL chính là những hoạt động nhằm nâng cao những đóng góp hiệu quả của mỗi cá nhân đối với mục tiêu của đơn vị/tổ chức trong khi đồng thời đạt được các mục tiêu xã hội. Khái niệm về chính sách quản lý nguồn nhân lực Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt được các KQ hợp lý. Một chính sách là một tuyên bố về ý định, và được thực hiện như một thủ tục hoặc giao thức. Các chính sách thường được bộ phận quản lý ra quyết định và ban hành trong một tổ chức.
Chính sách quản lý NNL trên thực tế là một hệ thống các quy định, yêu cầu, quy trình của doanh nghiệp liên quan đến nhân sự, có thể kể đến như: chính sách hoạch định NNL, phân tích CV, tuyển dụng, ĐT&PT, sắp xếp và sử dụng, duy trì NNL, mối quan hệ giữa nhà quản lý và NLĐ,… Chính sách quản lý nguồn nhân sự có vai trò thiết yếu trong quá trình thực hiện chiến lược phát triển mỗi doanh nghiệp. Nếu chính sách quản lý NNL của doanh nghiệp không hợp lý, không làm hài lòng NLĐ sẽ mang đến những KQ 9 không như mong muốn. Ngược lại, nếu thực thi chính sách quản lý NNL một cách hợp lý, không chỉ giúp tạo ra một môi trường kỷ luật, nghiêm túc với các quy định đúng mực, nhưng vẫn có thể khuyến khích và phát triển NLĐ. Nội dung của quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.
Quy trình quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp Quy trình quản lý nguồn nhân lực là một chuỗi các hành động được thực hiện theo một tuần tự nhất định nhằm đạt được mục tiêu về quản lý nguồn nhân lực. Việc xây dựng quy trình quản lý nguồn nhân lực sẽ giúp cho việc quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp được diễn ra thuận lợi và hiệu quả. Mặc dù mỗi loại hình doanh nghiệp có thể sẽ có những phương thức xây dựng quy trình quản lý khác nhau. Tuy nhiên, nhìn chung mô hình cơ bản của một quy trình quản lý nhân sự đều dựa trên các bước dưới đây: - Hoạch định NNL - Tuyển dụng - Sắp xếp và sử dụng NNL - Xây dựng kế hoạch đào tạo, phát triển và hoạch định nguồn nhân sự - Chế độ chính sách - Hệ thống văn bản áp dụng trong công ty - Xây dựng và phát triển văn hóa công ty Từ các bước cơ bản này mà mỗi nhà quản trị có thể áp dụng mở rộng thêm để phù hợp mới mong muốn và đem lại hiệu quả quản lý tốt hơn cho doanh nghiệp.
Công cụ quản lý nguồn nhân lực Công cụ quản lý nguồn nhân lực có vai trò quan trọng trong việc triển khai thực hiện quản lý NNL của doanh nghiệp. Công cụ quản lý NNL chính là tổng thể các phương tiện hữu hình và vô hình mà doanh nghiệp sử dụng để tác động lên NNL nhằm thực hiện được mục tiêu đã định. Đối với công tác quản lý NNL trong doanh nghiệp, các công cụ thường được sử dụng để quản lý NNL là: 10 Một là, hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước về NNL Hệ thống chính sách pháp luật của Nhà nước về NNL là một tập hợp các quy định đối với hoạt động quản lý NNL mà doanh nghiệp bắt buộc phải tuân thủ thực hiện. Đây cũng là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp thực hiện hoạt động quản lý NNL của mình.
Hai là, chính sách của doanh nghiệp về NNL Chính sách của doanh nghiệp về NNL chính là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, mục tiêu và những phương thức cơ bản để thực hiện mục tiêu về quản lý NNL của doanh nghiệp. Ba là, hệ thống các văn bản của doanh nghiệp quy định về hoạt động quản lý NNL Đây là một trong những công cụ quan trọng để doanh nghiệp tiến hành hoạt động quản lý NNL của mình. Các văn bản này được xây dựng dựa trên các quy định của pháp luật về hoạt động quản lý NNL. Tuy nhiên, nó được cụ thể hóa cho phù hợp với hoạt động của mỗi doanh nghiệp.
Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể sử dụng các công cụ quản lý NNL khác như các phần mềm quản lý NNL,…. Giới thiệu tổng quát về đặc điểm nguồn nhân lực ngành nhựa Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương, ngành nhựa giai đoạn 2010 - 2020, là một trong những ngành công nghiệp có tăng trưởng đầy kỳ vọng của Việt Nam với mức tăng hàng năm từ 16% - 18% (chỉ sau ngành viễn thông và dệt may). Và theo lẽ đó, NNL ngành nhựa cũng đang trong đà phát triển đầy triển vọng và năng động như vậy. NNL ngành nhựa bao gồm 2 bộ phận chính, đó là nhân lực tham gia sản xuất trực tiếp và nhân lực tham gia gián tiếp.
Nhân lực tham gia trực tiếp sản xuất: - Là những người tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất: công nhân (LĐ phổ thông), các bộ phận phụ trách tham gia và điều tiết trực tiếp quá trình sản xuất sản phẩm trong các nhà máy của doanh nghiệp. - Do đặc thù là ngành công nghiệp còn khá non trẻ và trình độ kỹ thuật - công nghệ còn nhiều hạn chế, ngành nhựa sử dụng trung bình khoảng 2/3 nhân lực tham gia trực tiếp sản xuất. - Những nhân lực này thường trong độ tuổi rất trẻ (khoảng từ 16 – 35 tuổi); trình độ học vấn từ 10/12 trở lên, sơ cấp – trung cấp; có sức khoẻ tốt để có thể làm việc năng suất trong ca kíp sản xuất và môi trường làm việc ẩn chứa nhiều vấn đề tiêu cực (khí thải, khói bụi, hoá chất độc hại,…); có tinh thần ham học hỏi, chăm chỉ siêng năng nâng cao trình độ tay nghề và đầy nhiệt huyết với CV. Nhân lực tham gia gián tiếp - Là những người tham gia gián tiếp vào quá trình sản xuất, hỗ trợ đầu vào và đầu ra của quá trình sản xuất: phòng Mua hàng, phòng Kinh doanh, phòng Kế hoạch và chiến lược, phòng Kế toán – Kiểm soát nội bộ, phòng Nghiên cứu phát triển thị trường, phòng Truyền thông,… - Cơ cấu nhân lực tham gia gián tiếp chiếm khoảng 1/3 trong tổng cơ cấu nhân lực ngành nhựa, nhưng chiếm vai trò quan trọng và luôn luôn tương hỗ với nhân lực tham gia trực tiếp sản xuất.
- So với nhân lực tham gia trực tiếp, nhân lực tham gia gián tiếp có độ tuổi khoảng từ 20 - 45 tuổi; trình độ học vấn từ trung cấp, cao đẳng, đại học và cả sau đại học; có sức khoẻ tốt khi phải làm việc với cường độ cao; có chuyên môn, kỹ năng và kinh nghiệm để có thể giải quyết và chịu được sức ép lớn từ các yếu tố khách quan đầy biến động như nền kinh tế, thị trường, khách hàng,… 12 1. Đặc điểm một số chính sách quản lý nguồn nhân lực ngành nhựa 1. Chính sách hoạch định nguồn nhân lực Hoạch định NNL là quá trình nhà quản lý đánh giá, xác định nhu cầu về NNL để có thể đáp ứng mục tiêu CV của tổ chức và xây dựng các kế hoạch liên quan nhằm thực thi hiệu quả.