phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 03 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực tại doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nguồn nhân lực tại công ty Cổ phần Đƣờng sắt Quảng Bình. Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nguồn nhân lực tại công ty Cổ phần Đƣờng sắt Quảng Bình. 6 PHẦN 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC TẠI DOANH NGHIỆP 1.
Lý luận về nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1. Nguồn nhân lực 1. Khái niệm Hiện nay, khái niệm nguồn nhân lực không còn xa lạ với nền kinh tế nƣớc ta. Tuy nhiên quan niệm về nguồn nhân lực vẫn chƣa đƣợc hiểu một cách thống nhất, tuỳ theo mục tiêu, lĩnh vực cụ thể mà ngƣời ta đƣa ra các khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực, có thể nêu ra một số quan điểm: Nguồn nhân lực (NNL) là tổng hợp các cá nhân, những con ngƣời cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần đƣợc huy động vào quá trình lao động.
Theo quản lý nhân lực trong doanh nghiệp (DN): Nguồn nhân lực đƣợc hiểu là toàn bộ khả năng về thể lực và trí lực của con ngƣời đƣợc vận dụng ra trong quá trình lao động sản xuất. Nó cũng là sức lao động của con ngƣời, một nguồn lực quý giá nhất trong các yếu tố của sản xuất trong các doanh nghiệp. [21] Tổ chức lao động quốc tế cho rằng nguồn nhân lực của mỗi quốc gia là toàn bộ những ngƣời trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. Đây là khái niệm nguồn nhân lực theo nghĩa hẹp, coi nguồn nhân lực là toàn bộ lao động trong nền kính tế quốc dân.
Từ những vấn đề trên, chúng ta có thể hiểu là: Nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con ngƣời (trƣớc hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động) bao gồm: Thể lực, trí lực và nhân cách của con ngƣời nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế xã hội đòi hỏi. [21] Nguồn nhân lực trong tổ chức một mặt là động lực thúc đẩy sự phát triển của tổ chức, mặt khác nguồn nhân lực cũng là mục tiêu của chính sự phát triển của tổ chức đó. Hay nói cách khác, sự phát triển của tổ chức cũng nhằm phục vụ lợi ích và tạo điều kiện phát triển nguồn nhân lực. Do đó giữa tổ chức và ngƣời lao động trong tổ chức phải có một mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ để cùng nhau phát triển bền vững trong sự phát triển chung của xã hội.
Vai trò của nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là một nguồn lực vô cùng quan trọng, vai trò của nó thể hiện ở những khía cạnh sau: Thứ nhất: Nguồn nhân lực là một nguồn lực sống Sự phát triển của mỗi doanh nghiệp hay tổ chức nào là phụ thuộc vào năng lực chuyên môn của nhân lực trong tổ chức đó, muốn coi trọng năng lực chuyên môn thì trƣớc hết phải coi trọng con ngƣời. Trong môi trƣờng cạnh tranh ngày càng gay gắt nhƣ hiện nay thì các tổ chức, doanh nghiệp phải thông qua công tác tuyển dụng, đào tạo, khai thác qua đó tác động vào nhân viên để làm cho doanh nghiệp ngày càng phát triển. Khác với các nguồn lực khác nguồn nhân lực là nguồn lực có ý thức nghĩa là ngƣời lao động chỉ làm việc một cách có hiệu quả và chất lƣợng khi mà họ cảm thấy thoải mái trong môi trƣờng làm việc của mình ngƣợc lại nếu bị gò bó và o ép thì hiệu quả làm việc của ngƣời lao động giảm đi đáng kể. Mặt khác chính vì nguồn nhân lực là một nguồn lực sống cho nên mỗi ngƣời lao động có một quan niệm về giá trị khác nhau.
Điều này là rất quan trọng, ngƣời quản lý phải xây dựng cho tổ chức của mình một quan niệm về chuỗi giá trị thống nhất nếu không sẽ gây ra mâu thuẫn, cản trở sự phát triển của doanh nghiệp. Đây chính là văn hóa của doanh nghiệp. Thứ hai: Nguồn nhân lực là yếu tố chủ yếu tạo ra lợi nhuận cho tổ chức. Nhƣ chúng ta đã biết thì giá trị hàng hóa bao gồm hai thành phần đó là giá trị chuyển dịch và giá trị gia tăng.
Giá trị chuyển dịch là giá trị do nguyên nhiên vật liệu, và các yếu tố vật chất tạo thành. Giá trị gia tăng là giá trị cống hiến của ngƣời lao động. Ngày nay khi mà các yếu tố vật chất cung cấp cho quá trình sản xuất gần nhƣ đã bão hòa thì điều làm nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và tổ chức chính là phần đóng góp của nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực có chất lƣợng cao sẽ đem lại giá trị gia tăng cao, giá trị gia tăng cao sẽ đem lại lợi nhuận cao - cái mà bất cứ doanh nghiệp nào cũng theo đuổi.
Tóm lại, nguồn nhân lực là một nguồn lực vô cùng quan trọng làm nên lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thứ ba: Nguồn nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lƣợc trong nền kinh tế tri thức. Cùng với sự phát triển của nhân loại thì nguồn nhân lực ngày càng có vai trò quan trọng. Trong thời kỳ công nghiệp hóa nguồn nhân lực là yếu tố chủ đạo đóng 8 góp vào thành công của các quốc gia.
Nhƣng khi đã bƣớc vào thời kỳ của kinh tế tri thức thì nguồn nhân lực lại quan trọng hơn bội phần. Nó có ý nghĩa chiến lƣợc, đây là giai đoạn mà những sản phẩm hàm chứa càng nhiều yếu tố chất xám thì mang lại hiệu quả càng cao, lao động trí óc giữ vai trò cực kỳ quan trọng. Thứ tƣ: Nguồn nhân lực là nguồn lực vô tận. Sự phát triển của tri thức con ngƣời là vô tận, năng lực học tập của con ngƣời ngày càng phát triển và vô hạn.
Chính vì vậy, nguồn nhân lực có ý nghĩa vô tận. Trong điều kiện cạnh tranh thị trƣờng ngày càng gay gắt, doanh nghiệp nào biết tận dụng vai trò dồi dào và vô hạn của nguồn nhân lực thì doanh nghiệp đó sẽ luôn chiến thắng trên thị trƣờng. Các yếu tố cấu thành nguồn nhân lực NNL đƣợc cấu thành bởi hai mặt: Số lƣợng và Chất lƣợng. Một là, về số lƣợng: Là tổng số ngƣời đƣợc tổ chức thuê mƣớn, đƣợc trả công và đƣợc ghi vào danh sách nhân sự của tổ chức.
Tùy thuộc tổ chức nằm ở loại hình nào, là doanh nghiệp tƣ nhân (nhƣ các công ty, các cửa hiệu, tiệm buôn.) hay các doanh nghiệp nhà nƣớc, mà lao động này thuộc dạng lao động hợp đồng dài hạn, ngắn hạn hay nằm trong biên chế, làm việc tại nhà hay tại tổ chức. Cũng tùy thuộc vào quy mô tổ chức là lớn hay nhỏ mà số lƣợng nhân lực của tổ chức nhiều hay ít. Số lƣợng đƣợc biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Các chỉ tiêu này có quan hệ mật thiết với chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng dân số.
Hai là, về chất lƣợng: Là trạng thái nhất định của nguồn nhân lực trong tổ chức, thể hiện mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn nhân lực. Chất lƣợng nguồn nhân lực đƣợc thể hiện trên các mặt sau đây: Thể lực nguồn nhân lực: Sức khỏe là mục tiêu của sự phát triển đồng thời cũng là điều kiện của sự phát triển. Sức khỏe cơ thể là sự dẻo dai cƣờng tráng, là khả năng lao động bằng chân tay và cơ bắp. Sức khỏe tinh thần là khả năng vận dụng trí tuệ, sự sáng tạo vào công việc, là khả năng chịu áp lực công việc của con ngƣời.
Đặc biệt trong môi trƣờng làm việc hiện đại với sức ép lớn của công việc thì càng đòi hỏi con ngƣời có khả năng chịu đƣợc áp lực tốt. Để đánh giá chất lƣợng của nguồn nhân lực có hai yếu tố cơ bản là: chiều cao trung bình và cân nặng trung bình. 9 Trí lực của nguồn nhân lực: Trí lực của nguồn nhân lực đƣợc đánh giá và xem xét trên hai giác độ đó là trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ năng lao động thực hành của ngƣời lao động. - Trình độ văn hóa là trình độ tri thức, khả năng nhận thức của ngƣời lao động về kiến thức chuyên môn.
Trình độ văn hóa đƣợc ngƣời lao động tiếp thu qua hệ thống giáo dục pháp quy, quá trình học tập và nghiên cứu. - Trình độ chuyên môn kỹ thuật của nguồn nhân lực là sự hiểu biết khả năng thực hành về chuyên môn nào đó, nó biểu hiện trình độ đƣợc đào tạo ở các trƣờng trung học chuyên nghiệp, cao đẳng đại học và sau đại học, có khả năng chỉ đạo quản lý một công việc thuộc chuyên môn nhất định. Đây là chỉ tiêu quan trọng nhất, phản ánh chất lƣợng nguồn nhân lực của tổ chức, khả năng áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện đại vào các hoạt động của tổ chức. Nó đƣợc thể hiện thông qua cơ cấu lao động đƣợc đào tạo và chƣa đào tạo, cơ cấu cấp bậc đào tạo, cơ cấu lao động kỹ thuật và các nhà chuyên môn, cơ cấu trình độ đào tạo [21] 1.
Quản lý nguồn nhân lực 1. Khái niệm Quản lý NNL là công tác quản lý con ngƣời trong phạm vi nội bộ một DN, thể hiện qua cách thức, biện pháp hành xử của DN với ngƣời lao động. Theo giáo sƣ ngƣời Mỹ Dimock: “Quản lý nhân sự bao gồm toàn bộ các biện pháp và thủ tục áp dụng cho nhân viên củạ một DN và giải quyết tất cả các trựờng hợp xảy ra có liên quan tới một loại công việc nào đó”.[15] Giáo sƣ Felix Migro thì cho rằng: “Quản lý nhân sự là một nghệ thuật chọn lựa nhân viên mới và sử dụng các nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lựợng công việc của mỗi ngựời đều đạt mức tối đa có thể”. [15] Do đó, Quản lý NNL đƣợc hiểu là một trong các chức nắng cơ bản của quá trình quản lý và giải quyết tất cả các vấn đề liên quan tới con ngƣời gắn với công việc của họ trong bất cứ DN nào.
Nhƣ vậy: Quản lý NNL là quá trình tuyển dụng, lựa chọn, duy trì, phát triển và tạo điều kiện có lợi cho NNL trong một tổ chức nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đặt ra của tổ chức đó.