CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận văn Đã có rất nhiều nghiên cứu về phát triển NNL. Các nghiên cứu về phát triển NNL thường đề cập đến phát triển NNL ở tầm vĩ mô, cho các doanh nghiệp nói chung, cho các tỉnh và cho quốc gia. Chủ đề phát triển NNL trong các doanh nghiệp cũng được nghiên cứu, ở nước ta vẫn là đề tài được nhiều người nghiên cứu. Trong các đề tài liên quan đến luận văn nổi bật có một số các công trình nghiên cứu sau: - Đề tài khoa học cấp bộ:“Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực ngành Nội vụ trong phạm vi chức năng đào tạo của trường Đại học Nội vụ Hà Nội”do Thạc sĩ Lê Thanh Huyền – Trưởng khoa văn hóa, thông tin và xã hội – Đại học Nội vụ Hà Nội là chủ nhiệm đề tài (2013).
Tác giả đã tập trung phân tích thực tiễn về đạo tạo và phát triển NNL cho ngành Nội vụ trong phạm vi chức năng và nhiệm vụ của trường Đại học Nội vụ Nà Nội. Từ đó đề xuất các nhóm giải pháp tổ chức đào tạo, phát triển NNL cho ngành Nội vụ phù hợp với Chiến lược phát triển NNL của Việt Nam. - Luận án Tiến sĩ: “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước Lào hiện nay”, Học viện Chính trị quốc gia, của Xinh Khăm - Phôm Ma Xay (2003). Luận án đã trình bày quan niệm, đặc điểm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế; phân tích những vấn đề cơ bản về chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo nhân tài; đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý kinh tế Lào trong tình hình mới.
Tuy nhiên, luận án mới chỉ dừng lại ở đội ngũ lãnh đạo quản lý, không đề cập đến đối tượng công nhân và cán bộ, nhân viên công nghệ trong DN. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 6 - Luận án tiến sĩ:“Phát triển NNL trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế.” của Lê Thị Mỹ Linh (2009). Các khái niệm, các định nghĩa về phát triển NNL của luận văn này được kế thừa. Tuy nhiên, các giải pháp và cách đi vào phân tích vấn đề của tác giả mới ở chung chung chứ chưa đi vào một trường hợp doanh nghiệp cụ thể.
- Luận án tiến sĩ Kinh tế chính trị: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” của TS. Lê Thị Hồng Điệp (2010). Tác giả trình bày những khái niệm lý luận cơ bản và chỉ ra những đặc điểm của nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam, vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phân tích những vấn đề gia tăng dân số, cơ cấu nguồn nhân lực,tỷ lệ nguồn nhân lực khoa học công nghệ, đặc điểm, yêu cầu của kinh tế tri thức đối với nguồn nhân lực chất lượng cao; đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam. - Luận án tiến sĩ: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung” của TS Lê Quang Hùng (2011).
Tác giả đã làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn chủ yếu về NNL và phát triển nhân lực chất lượng cao, trên cơ sở tổng quan có chọn lọc một số quan điểm cơ bản của các nhà kinh tế học trên thế giới, một số Tổ chức quốc tế và một số học giả của Việt Nam, kết hợp đúc rút thực tiễn tác giả đã đề xuất quan niệm về NNL chất lượng cao. Từ đó, tác giả đề xuất bộ tiêu chí xác định và đánh giá NNL chất lượng cao để vận dụng vào điều kiện Việt Nam và phát triển NNL chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. - Luận án tiến sĩ: “Giáo dục - đào tạo với việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay” của TS Lương Công Lý (2014). Tác giả đã lý giải rõ hơn vai trò của giáo dục - đào tạo với việc phát triển NNL chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những hạn chế và nguyên nhân của Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 7 những hạn chế đó tác động đến việc giáo dục - đào tạo và phát triển NNL chất lượng cao.
Từ đó tác giả đề xuất năm giải pháp nhằm phát huy vai trò của giáo dục đào tạo với việc phát triển NNL chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay. - Luận văn thạc sĩ:“Phát triển nguồn nhân lực trong các công ty kiểm toán độc lập tại Hải Phòng” của Ths Bùi Thị Hường (2011). Tác gải đã phân tích và làm rõ về hiện trạng NNL và những tác động tích cực cũng như những hạn chế và các nguyên nhân hạn chế của yếu tố con người trong việc phát triển NNL của ngành kiểm toán độc lập tại Hải Phòng. Đồng thời tác giả cũng nêu ra những gợi ý về việc đào tạo và bồi dưỡng nhân lực ngành kiểm toán độc lập tại Hải Phòng trong quá trình hội nhập kinh tế.
- Luận văn thạc sỹ: “Phát triển nguồn nhân lực tại Công ty xây dựng công trình giao thông 244” của Nguyễn Ngọc Thủy (2013). Luận văn có sử dụng bảng hỏi để điều tra thực trạng phát triển NNL của Công ty. Các giải pháp đưa ra cũng toàn diện. Tuy nhiên phần lý luận tác giả làm chưa rõ.
Hơn nữa tác giả với vị trí là lãnh đạo Công ty nên việc điều tra, phân tích của tác giả chưa thực sự mang tính khách quan. Các vấn đề còn tiếp tục nghiên cứu Tóm lại, các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài đã cho thấy bức tranh khá đầy đủ và toàn diện cả về lý luận và thực tiễn về NNL và phát triển NNL ở nước ta qua các thời kỳ. Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định NNL và phát triển NNL có tầm quan trọng đặc biệt trong chiến lược phát triển của các quốc gia, là động lực phát triển kinh tế xã hội. Nhiều công trình nghiên cứu khẳng định, mỗi giai đoạn khác nhau thì yêu cầu về NNL và phát triển NNL đặt ra có sự khác nhau và mỗi loại nhân lực có yêu cầu cụ thể riêng về tiêu chí chất lượng, phẩm chất, năng lực phù hợp với đặc điểm, tính chất, chức năng nhiệm vụ của từng loại nguồn nhân lực.
Nhiều công trình đã khẳng định tính tất yếu của Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 8 việc phát triển NNL đáp ứng các nhiệm vụ trong thời kỳ mới, chỉ rõ yêu cầu đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải có NNL chất lượng đủ sức, đủ tầm thực hiện thắng lợi sự nghiệp ấy. Tuy nhiên, do cách tiếp cận và phạm vi nghiên cứu của từng công trình, thường là các nghiên cứu về phát triển NNL cho một quốc gia, vùng lãnh thổ, khu kinh tế hay trong các tập đoàn kinh tế, ngành hoặc lĩnh vực mà chưa có công trình nào nghiên cứu về NNL và phát triển NNL trong các doanh nghiệp xây lắp cụ thể trong quá trình hội nhập kinh tế và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước hiện nay. Khoảng trống về mặt lý luận và đặc biệt là mặt thực tiễn này, cũng như tầm quan trọng của vấn đề nghiên cứu đã thôi thúc tác giả lựa chọn vấn đề: “Phát triển nguồn nhân lực trong Công ty cổ phần Someco Sông Đà” làm đề tài nghiên cứu của luận văn. Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 9 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 2.1 Khái quát về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực 2.1 Khái niệm về nguồn nhân lực Có thể nói, khái niệm NNL hiện nay không còn xa lạ với nền kinh tế nước ta.
Tuy nhiên, cho đến nay quan niệm về vấn đề này hầu như chưa thống nhất. Tùy theo mục tiêu cụ thể mà người ta có những nhận thức khác nhau về NNL. Có thể nêu lên một số quan niệm như sau: Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân do PGS.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh làm chủ biên in năm 2011 thì: “ Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định”. “ Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai.
Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”.TS Phạm Minh Hạc trong cuốn “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa” Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia năm 2001: “Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sẵn sàng tham gia một công việc nào đó”. Những khái niệm nêu trên chỉ NNL ở phạm vi vĩ mô của nền kinh tế. Tuy nhiên đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề phát triển nguồn nhân Luận văn tốt nghiệp ngành Kinh tế 10 lực tại Doanh nghiệp là Công ty Cổ phần Someco Sông Đà. Vậy trong doanh nghiệp, nguồn nhân lực được hiểu như thế nào? Theo GS.TS Bùi Văn Nhơn trong sách “Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội” nhà xuất bản Tư pháp năm 2006 thì: “ Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lượng lao động của doanh nghiệp, là số người có tên trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lương”.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực, do Ths Nguyễn Vân Điềm và PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân chủ biên của trường Đại học Kinh tế Quốc dân (năm 2011) thì khái niệm này được hiểu như sau: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả các những người lao động đang làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm thể lực và trí lực”.