CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHIẾN LƯỢC KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc trưng và vai trò của chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp. Khái niệm về chiến lược kinh doanh. Theo cách tiếp cận truyền thống, chiến lược kinh doanh là việc xác định những mục tiêu cơ bản dài hạn của doanh nghiệp và thực hiện chương trình hành động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu xác định.
Cũng có thể hiểu chiến lược kinh doanh là phương thức mà các doanh nghiệp sử dụng để định hướng tương lai nhằm đạt được mục tiêu và duy trì sự phát triển. Nghiên cứu đầu tiên về chiến lược kinh doanh được bắt đầu từ những năm 50 tại Trường kinh doanh của Đại học Harward với tên gọi là phương pháp LAG. Đặc điểm của phương pháp này là nhấn mạnh tính logic trong quy trình ra quyết định. Chiến lược này được mô phỏng theo chiến lược quân sự: Xác định điểm mạnh - điểm yếu, cơ hội - nguy cơ; chiến lược đặt trọng tâm vào các vấn đề: Kế hoạch hóa khối lượng, sản xuất, đầu tư và tài chính.
Theo Alfred Chadler - Đại học Harward: “Chiến lược kinh doanh là sự xác định các mục tiêu cơ bản, lâu dài của doanh nghiệp, đồng thời là sự vạch ra và lựa chọn cách thức, các quá trình hành động và phân phối các nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu đó”. David: “Chiến lược kinh doanh là những phương tiện để đạt đến mục tiêu dài hạn. Chiến lược kinh doanh có thể gồm có sự phát triển về địa lý, đa dạng hóa hoạt động, sở hữu hóa, phát triển sản phẩm, thâm nhập thị trường, cắt giảm chi tiêu, thanh lý, liên doanh”. David, Khái luận về quản trị chiến lược, bản dịch, NXB Thống kê, 2016).
Từ các khái niệm trên, chúng ta thấy một số đặc trưng của chiến lược kinh doanh như sau: - Chiến lược kinh doanh chính là việc xác định mục tiêu kinh doanh, lập kế hoạch và phân bố nguồn lực của doanh nghiệp để tạo ra lợi thế cạnh tranh nhằm đạt được mục tiêu kinh doanh một cách tốt nhất. 5 - Chiến lược kinh doanh luôn mang tính định hướng: Bởi vì chiến lược kinh doanh bao gồm các mục tiêu dài hạn mà môi trường kinh doanh hiện đại luôn biến đổi không thể lường trước được nên chiến lược kinh doanh chỉ có tính định hướng và không thể cứng nhắc được. Vì vậy, bên cạnh các chỉ tiêu định lượng, chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp nên chú trọng nhiều hơn đến các chỉ tiêu định tính. Điều cần thiết là phải luôn theo dõi, dự báo những thay đổi của môi trường kinh doanh để kịp thời điều chỉnh các hoạt động thực hiện chiến lược thậm chí điều chỉnh các mục tiêu chiến lược cho phù hợp.
- Chiến lược kinh doanh luôn tập trung vào ban lãnh đạo Công ty hoặc người đứng đầu Công ty để quyết định những vấn đề lớn quan trọng nhất đối với Công ty. Chiến lược kinh doanh của Công ty đề cập đến những vấn đề bao trùm, tổng quát nhất tới mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. - Chiến lược kinh doanh luôn được xây dựng trên cơ sở lợi thế so sánh với đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Chiến lược kinh doanh luôn xây dựng cho những ngành nghề kinh doanh trong lĩnh vực kinh doanh chuyên môn hóa truyền thống và là thế mạnh của Công ty.
Quản trị chiến lược. Quản trị chiến lược là một bộ các quyết định quản trị và các hành động xác định hiệu suất dài hạn của một công ty. Quản trị chiến lược bao gồm các hành động liên tục: Soát xét môi trường (cả bên trong lẫn bên ngoài); xây dựng chiến lược; thực thi chiến lược và đánh giá kiểm soát chiến lược. Do đó, nghiên cứu chiến lược nhấn mạnh vào việc theo dõi, đánh giá các cơ hội và đe dọa bên ngoài trong bối cảnh của các điểm mạnh và điểm yếu bên trong.
Hoạch định chiến lược Hoạch định (Planning) là chức năng quản lý cơ bản, bao gồm việc quyết định trước, việc gì phải làm, khi nào hoàn thành, làm như thế nào và ai sẽ thực hiện. Đây là một quá trình trí tuệ xác định các mục tiêu của tổ chức và phát triển các quy trình hành động khác nhau, nhờ đó tổ chức có thể đạt được các mục tiêu đó. Nó phấn đấu chính xác, làm thế nào để đạt được một mục tiêu cụ thể. 6 Hoạch định không gì khác ngoài suy nghĩ trước khi hành động diễn ra.
Nó giúp chúng ta nhìn trước tương lai và quyết định trước cách đối phó với các tình huống mà chúng ta sẽ gặp phải trong tương lai. Nó liên quan đến tư duy logic và ra quyết định hợp lý. Hoạch định là quá trình phát triển các chiến lược nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh, được hỗ trợ bởi các mục tiêu, nhiệm vụ và thời hạn. Hoạch định được xây dựng dựa trên tầm nhìn xa, năng lực cơ bản để du hành thời gian của trí óc.
Sự tiến hóa của tính trước, khả năng suy nghĩ trước, được coi là động lực chính trong quá trình tiến hóa của loài người. Hoạch định là đặc tính cơ bản của hành vi thông minh. Nó liên quan đến việc sử dụng logic và trí tưởng tượng để hình dung không chỉ một kết quả cuối cùng mong muốn mà còn các bước cần thiết để đạt được kết quả đó. Một khía cạnh quan trọng của hoạch định là mối quan hệ của nó với dự báo.
Dự báo nhằm mục đích dự đoán tương lai sẽ như thế nào, trong khi lập kế hoạch hình dung tương lai sẽ như thế nào. Hoạch định là điều kiện tiên quyết của mọi chức năng quản lý, cho dù đó là tổ chức, biên chế, chỉ đạo hay kiểm soát. Tất cả các chức năng này phải được đặt trước bởi một hệ thống lập kế hoạch hiệu quả, nếu không những người liên quan đến việc thực hiện chúng sẽ khó thực hiện chúng một cách có hệ thống và hiệu quả. Lập kế hoạch cho phép cung cấp cho tương lai không chắc chắn.
Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất của quản lý. Tuy nhiên, trong khi kết hợp các thay đổi, cần luôn nhớ rằng sự thay đổi (như quyết định) trong bất kỳ lĩnh vực nào cũng có thể ảnh hưởng đến lĩnh vực khác theo cách tương tự. Nói một cách khái quát, hoạch định là một cụm hoạt động chính trong quá trình quản lý và bao gồm việc hình thành các mục tiêu và các hành động cần thực hiện để đạt được chúng. Nó là một quá trình liên quan đến những gì phải được thực hiện và nó được thực hiện như thế nào.
Trọng tâm của nó là đặt ra các mục đích và phương tiện. Do đó, có hai khía cạnh thiết yếu của việc lập kế hoạch. Chỉ lựa chọn các mục tiêu và chỉ tiêu để đạt được, không phải là lập kế hoạch. Đó chỉ là một giai đoạn trong quá trình của việc lập kế hoạch.
Giai đoạn cần thiết khác liên quan đến việc lựa chọn hoặc thiết kế các kỹ thuật và thủ tục thích hợp sẽ là công cụ để 7 đạt được các mục tiêu. Một cái không có cái kia không cung cấp một kế hoạch. Hoạch định chiến lược là nỗ lực của tổ chức nhằm đưa ra những quyết định và những hành động cơ bản có vai trò định hình và hướng dẫn cho tổ chức đó muốn trở thành cái gì, phục vụ cho ai, làm gì, lý do tại sao làm việc đó, và chú trọng đến tầm nhìn tương lai. Hoạch định chiến lược là một chức năng quản trị của một tổ chức, bao gồm việc: xác định các ưu tiên, tập trung các nguồn lực và củng cố các hoạt động vận hành, nhằm bảo đảm cho các nhân viên của tổ chức và các bên có liên quan khác cùng hướng đến những mục tiêu chung, đạt được sự thống nhất về các kết quả dự kiến, đánh giá và điều chỉnh phương hướng hoạt động của tổ chức để đáp ứng môi trường kinh doanh luôn biến động.
Kế hoạch chiến lược là một văn bản dùng để truyền đạt tới toàn bộ tổ chức các mục tiêu của tổ chức đó, các hành động cần thực hiện để đạt được những mục tiêu đã đề ra và tất cả các yếu tố quan trọng khác phát sinh trong quá trình hoạch định chiến lược. Vai trò của hoạch định chiến lược Hoạch định chiến lược giúp các nhà quản lý cải thiện hiệu suất trong tương lai, bằng cách thiết lập các mục tiêu và lựa chọn một quá trình hành động, vì lợi ích của tổ chức. Bên cạnh đó, hoạch định còn giảm thiểu rủi ro và sự không chắc chắn, bằng cách nhìn về tương lai. Hoạch định chiến lược tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp các hoạt động.
Do đó, giảm sự chồng chéo giữa các hoạt động và loại bỏ những công việc không hiệu quả. Hoạch định cho biết trước, những gì sẽ được thực hiện trong tương lai, vì vậy nó cung cấp định hướng cho hành động. Hoạch định chiến lược phát hiện và xác định các cơ hội và mối đe dọa trong tương lai và đưa ra các tiêu chuẩn để kiểm soát. Nó so sánh hiệu suất thực tế với hiệu suất tiêu chuẩn và các nỗ lực được thực hiện để sửa lỗi giống nhau.
Hoạch định chiến lược có mặt ở tất cả các loại hình tổ chức, hộ gia đình, lĩnh vực, nền kinh tế, v. Bằng quá trình hoạch định, một tổ chức không chỉ có được những hiểu biết sâu sắc về tương lai mà còn giúp tổ chức định hình tương 8 lai của mình. Khi hoạch định hiệu quả liên quan đến sự đơn giản của kế hoạch, tức là kế hoạch phải được trình bày rõ ràng và dễ hiểu vì nếu kế hoạch quá phức tạp sẽ tạo ra sự hỗn loạn giữa các thành viên trong tổ chức. Hơn nữa, kế hoạch phải đáp ứng tất cả các yêu cầu của tổ chức.
Trong khi thực hiện chức năng tổ chức, lãnh đạo cao nhất phải phát triển khái niệm về sự phân luồng quyền hạn phù hợp, trách nhiệm giữa cấp trên và cấp dưới và cả phạm vi phân quyền. Về nhân sự, lãnh đạo cao nhất phải xác định các chính sách và chương trình liên quan đến tuyển dụng, lựa chọn, bố trí, đào tạo, v. Chức năng chỉ đạo có thể được thực hiện một cách hiệu quả, nếu hệ thống truyền thông và động lực được hoạch định đúng cách. Việc thực hiện chức năng kiểm soát phần lớn phụ thuộc vào tính hiệu quả của việc lập kế hoạch.
Việc thiết kế hệ thống điều khiển bắt đầu bằng việc hình thành các kế hoạch khác nhau.