phần mở đầu và phần kết luận thì luận văn cao học gồm có ba chương. Cụ thể: Chương ỉ: Những vấn đề pháp lý cơ bản về hòa giải tranh chấp thương mại. Thực trạng pháp luật về hòa giải tranh chấp thương mại ở Việt Nam và thực tiễn thi hành trên địa bàn tỉnh Sơn La. Chương 3: Một số kiến nghị về hoàn thiện pháp luật hòa giải tranh chấp thương mại và nâng cao hiệu quả thực thi trên địa bàn tỉnh Sơn La.
6 CHUÔNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ cơ BÃN VÈ HÒA GIẢI TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI 1. Khái quát về tranh chấp thương mại 1. Khái niệm hoạt động thương mại Thương mại (thường gọi ghép là kinh doanh thương mại) là hoạt động lưu thông phân phối hàng hoá, dịch vụ trên thị trường trong nước của từng quốc gia riêng biệt hoặc giữa các quốc gia với nhau. Trong kinh doanh thương mại nói chung và hoạt động nội thương nói riêng, cần xuất phát từ đặc điểm quan hệ thương mại và tiềm năng kinh doanh với các bạn hàng để tìm phương thức giao dịch, mua, bán thích hợp đem lại cho đơn vị lợi ích lớn nhất.
Ngày nay thuật ngữ kinh doanh thương mại được sử dụng rất rộng rãi dùng để chỉ hoạt động trung gian nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng nhằm mục đích lợi nhuận. Hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng khái niệm kinh doanh, còn tại Việt Nam khái niệm kinh doanh được sử dụng rộng rãi từ khi Việt Nam chuyến sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tại các nước có hệ thống thông luật không có sự phân biệt giữa kinh doanh và dân sự. Nhưng ở một số nước theo truyền thống Châu Âu lục địa có Bộ luật Thương mại riêng như Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Pháp thì có sự phân biệt giữa thương mại và dân sự.
Ớ các nước này kinh doanh được sử dụng phù họp với thương mại theo nghĩa rộng do Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) hay Luật mầu Uncitral về Trọng tài Thương mại đưa ra. Theo đó “Thương mại” bao gồm tất cả các quan hệ giao dịch mang bản chất thương mại như: cung cấp hàng hóa, dịch vụ, thỏa thuận về đại diện thương mại, hóa đơn, chứng từ, các dịch vụ tư vấn, đề án thiết kế, giấy phép đầu tư, giao dịch ngân 7 hàng, bảo hiêm, vận chuyên hàng hóa hay hành khách băng đường không, đường biển, đường sắt hay đường bộ. Khái niệm thương mại ngày càng được mở rộng ra với nội hàm rộng lớn, bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Chẳng hạn như, Bộ luật Thương mại số 48 của Nhật Bản ngày 9/3/1899, thuật ngữ thương mại được dùng để chỉ những hoạt động mua bán nhằm mục đích lợi nhuận và hầu hết các dịch vụ trên thị trường như dịch vụ vận tải, cung ứng điện hay khí đốt, uỷ thác, bảo hiểm, ngân hàng.
Luật Thương mại của Philippin tuy không đưa ra các hành vi thương mại cụ thể mà quy định phạm vi điều chỉnh là các hoạt động nhằm thúc đẩy sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ với mục đích thu lợi nhuận. Ngoài ra Luật Thương mại của Philippin còn điều chỉnh các giao dịch thương mại trong tất cả các lĩnh vực kể cả lĩnh vực vận chuyển hành khách. Bộ luật Thương mại của Thái Lan cũng đưa ra khái niệm thương mại khá rộng không chi bao gồm việc mua bán hàng hoá mà bao gồm cả các hoạt động thuê tài sản, thuê mua tài sản, tín dụng, thế chấp, đại diện, môi giới, bảo hiểm, công ty, hợp danh. Tại Việt Nam, kinh doanh thương mại được hình thành và phát triền trễ hơn do hoàn cảnh lịch sử của đất nước.
Căn cứ các giai đoạn của lịch sử, có thể chia quá trình hình thành và phát triển của kinh doanh thương mại ở Việt Nam thành ba giai đoạn như sau: a. Giai đoạn trước năm 1975 Trước năm 1975, Việt Nam còn trong giai đoạn đất nước bị chia cắt, chiến tranh diễn ra ở cả hai miền Bắc, Nam. Nền kinh tế miền Bắc được tổ chức theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung do bị ảnh hưởng của khối xã hội chủ nghĩa (XHCN) bao gồm như Liên Xô và các nước XHCN ở Đông và Trung Âu. Trong khi đó, miền Nam dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa cũ đã duy trì 8 một nên kinh tê thị trường khá sôi động.
Đã xuât hiện những thương xá lớn ở Sài Gòn như Tax, Tam Đa. về ngoại thương: chính quyền Sài Gòn cũ thực hiện một số chính sách như không quốc hữu hóa, miễn các loại thuế trước bạ, lợi tức, hải quan, cho tư bản tự do chuyến tiền, lợi tức về nước từ một đến ba năm. nhằm kêu gọi tư bản nước ngoài đầu tư vào Việt Nam. Nhìn chung, kinh tế miền Nam vẫn nằm trong kinh tế thời chiến phụ thuộc vào viện trợ, công nghiệp hướng nội, chưa giải quyết được vấn đề năng lượng, thương mại chủ yếu nhập khấu và tiêu thụ hàng viện trợ.
Nhưng kinh tế miền Nam phát triển hơn kinh tế miền Bắc nhờ có sự mở cửa giao thương từ các nước có nền kinh tế thị trường khác, nhưng điều này chủ yếu mang lại lợi ích cho tư bản nước ngoài. Do ảnh hưởng của thị trường tự do nên hoạt động thương mại thuần túy đã hình thành ở miền Nam. Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1986 Năm 1975, Việt Nam thống nhất đất nước. Lúc này nhu cầu về tiêu dùng của các tầng lớp dân cư trong xã hội khác trước.
Mô hình kinh tế XHCN với hai thành phần cơ bản là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể không phát huy tác dụng như mong muốn, ngược lại còn làm gia tăng sự trì trệ, túng thiếu trong cả khu vực nhà nước lẫn bên ngoài. Gần như cùng lúc, Việt Nam vẫn phải tiến hành với hai cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc, đó là cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1978 và cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc chống Trung Quốc năm 1979. Hoàn cảnh khó khăn đặc biệt đặc biệt này dẫn đến sự suy thoái kinh tế trầm trọng, đòi hỏi phải có những cải cách trong thế chế kinh tế và cơ chế quản lý kinh tế để đa dạng hóa các thành phần kinh tế, kích thích sản xuất tư nhân phát triển và công nhận sở hữu tư nhận làm động lực cho nhân dân sản xuất ra nhiều của cải cho xã hội. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 10 khoá V (6/1986) đã đánh giá tình hình sau cuộc điều chỉnh giá-lương-tiền vào tháng 9/1985 và 9 khẳng định chính thức đổi mới cơ chế quản lý, xóa bở cơ chế tập trung quan liêu bao cấp.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) đã chủ trương công cuộc Đổi mới: “Phát triển nền kình tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đó là bước khởi đầu của công cuộc Đổi mới, thay đổi cơ cấu các chủ thể sản xuất kinh doanh, tạo tiền đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế thị trường. Giai đoạn từ sau năm 1986 đến nay Từ công cuộc Đỗi mới năm 1986 đến nay, nền kinh tế Việt Nam có nhiều biến đổi tích cực, thị trường hàng hoá, dịch vụ nước ta dần được hình thành đạt được những thành tựu cơ bản sau: Từng bước xóa bỏ cơ chế kinh tế tập trung bao cấp, chuyển từng bước sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết cùa Nhà nước và theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Như là kết quả của sự nồ lực xóa bở cơ chế kinh tế tập trung bao cấp, kinh tế tư nhân được thừa nhận và tạo điều kiện phát triển. Mạng lưới kinh doanh thương mại, dịch vụ tiếp tục được mở rộng trên cả ba địa bàn: thành thị, nông thôn và miền núi với sự tham gia của các chủ thể kinh doanh thuộc nhiều thành phần kinh tế.
Các hoạt động thương mại ngày càng đa dạng và phong phú. Quản lý nhà nước về thương mại có sự đồi mới từ trung ương đến địa phương cả về tư duy, nội dung và phương pháp quản lý, môi trường pháp lý cho lưu thông hàng hoá, hoạt động của thương nhân. Để quản lý các hoạt động kinh tế thị trường, Nhà nước ta đã xây dựng hệ thống pháp luật để diều chỉnh hoạt động thương mại. Thuật ngữ “Kinh tế” xuất hiện lần đầu trong Pháp lệnh Hợp đồng Kinh tế năm 1989.
Năm 1990, Quốc Hội ban hành hai đạo luật là “Luật Công ty” và “Luật Doanh nghiệp Tư nhân”. Hai luật này đã đưa ra một khái niệm mới trong khoa học pháp lý Việt Nam có liên quan nhiều đến việc áp dụng pháp luật thương mại, đó là khái niệm “kinh doanh”. Theo khoản 1 điều 3 Luật Công ty 1990 và điều 10 2 Luật Doanh nghiệp Tư nhân 1990 thì “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quả trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sàn phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. 1 • • • • • • • Trong các luật doanh nghiệp (LDN) được ban hành các năm 2000, 2005, 2014 và gần đây nhất là LDN 2020 thì khái niệm này về cơ bản vẫn giữ nguyên.
Khoán 16 Điều 4 của LDN 2020 giải thích rằng: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cá công đoạn của quá trĩnh từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phâm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận” Rõ ràng rằng khái niệm kinh doanh trong các luật LDN ớ Việt Nam có những điểm tương đồng với khái niệm thương mại theo nghĩa rộng được sử dụng phổ biến trên thế giới hiện nay và cũng được giải thích tại Luật mầu về Trọng tài Thương mại Quốc tế của UNCITRAL năm 1985. Ớ Việt Nam, thuật ngữ “thương mại” được sử dụng khá rộng rãi trong đời sống xã hội và trong nhiều các văn bản quy phạm pháp luật, song cho đến nay chưa có định nghĩa chính thức trong Luật Thương mại (LTM). Khoản 2 điều 5 LTM năm 1997 đã định nghĩa “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội”.