Chương 1: TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CỨU 1. Các nghiên cứu dé cập đến mua ban người, tinh hình tội phạm mua bán người 1. Các nghiên cứu về mua bán phụ nữ Mua bán phụ nữ được đề cập đến khá nhiều nghiên cứu trong thời gian gần đây. Theo đó, các nghiên cứu đã mô tả tương đối đầy đủ về thực trạng mua bán phụ nữ bao gồm các đặc điểm của nạn nhân, các số liệu liên quan đến mua bán phụ nữ, những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mua bán phụ nữ và một số hậu quả đối với nạn nhân sau khi bị mua bán: Nội dung của các nghiên cứu đã được các tác gia Darryl Cook (1999), Tiziana Teribile (2000), Greg William J.
dat ra nhiều vấn đề khác nhau nhưng tựu chung lại là: nguyên nhân, thực trạng của mua bán phụ nữ và trẻ em; những khó khăn của nạn nhân gặp phải trong quá trình bi mua bán,. Điển hình, là nghiên cứu của Lê Thị Quý (2000) Van dé ngăn chặn nạn buôn bản phụ nữ ở Việt Nam, nghiên cứu này chỉ ra loại hình và mạng lưới mua bán phụ nữ; Điều kiện làm sống và “làm việc” tôi tệ của phụ nữ bị mua bán. Tác giả cũng chỉ ra ảnh hưởng của vấn đề mua bán phụ nữ đến phụ nữ bị mua bán, phụ nữ nói chung, đến gia đình và cộng đồng. Ngoài ra, tác giả còn nghiên cứu về luật pháp và chính sách của Nhà nước về việc ngăn chặn nạn mua bán phụ nữ.
Những kiến thức này có thé giúp cho tác giả luận án hiểu hơn những khó khăn của phụ nữ bị mua bán dé từ đó đưa ra các hoạt động hỗ trợ đáp ứng nhu cầu của thân chủ. Tiếp đến là nghiên cứu của Trần Minh Hưởng (2003) Đấu tranh, phòng chống tội phạm mua bán phụ nữ, trẻ em ở nước ta trong tình hình mới, đã đề cập đến các thủ đoạn điển hình của bọn tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em; những nguyên nhân chính tác động đến tình hình tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em ở nước ta; những quy định của pháp luật về đấu tranh phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em; các giải pháp nâng cao hiệu quả đâu tranh phòng chông các tội phạm mua 18 bán phụ nữ và trẻ em. Nghiên cứu này cung cấp một bức tranh tổng quan về công tác dau tranh phòng, chống tội phạm mua bán phụ nữ và trẻ em. Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đề cập đến các hoạt động hỗ trợ phụ nữ sau khi bi mua ban trở về.
Trước hết trong nghiên cứu Nó lệ tinh dục và buôn bán phụ nữ ở Châu A của tác giả Louis Brown (2004) đã có những phan ánh sâu sắc về cuộc sống khó khăn của người phụ nữ bị mua bán: từ khi bị bán vào các cơ sở hoạt động mại dâm, cho đến những khó khăn trong thời gian bị ép bán dâm, hoạt động tự nguyện bán dâm dé trả nợ và tránh những trận hành hạ về cả thé xác và tinh thần của giới chủ chứa. Kết quả nghiên cứu của tác giả Louis Brown đã cung cấp cơ sở lý luận của luận án, giúp tác giả luận án có thé hiểu được những khó khăn của nạn nhân khi bị mua bán, từ đó lý giải các đặc đặc tâm sinh lý và nhu cầu của nạn nhân sau khi bi mua bán trở về, làm cơ sở dé đề xuất, kiến nghị các giải pháp hỗ trợ phụ nữ bi mua bán trở về dé dang tái hòa nhập cộng đồng. Ngoài ra, nghiên cứu An ninh con người và van nạn buôn người: Các khái niệm chính và một số van dé liên quan đến nạn mua bán phụ nữ và trẻ em tại Việt Nam của tác giả Nguyễn Hồng Bắc (2006) đã phát hiện ra: Buôn người thường diễn ra theo 3 giai đoạn là tuyển dung, di chuyền và bóc lột. Tac gia cũng dé cập đến đặc điểm của nạn mua bán người; những nguyên nhân cơ bản thúc đây sự phát triển của tệ nạn buôn người; những tác động tới sự phát triển kinh tế và xã hội; các giải pháp của chính phủ.
Những kiến thức trong bài viết này đã giúp cho tác giả luận án có thê đề xuất các hoạt động của Nhân viên công tác xã hội giúp cho thân chủ phòng tránh không bị rơi vào đường dây buôn người và có những kiến nghị đến các cơ quan chức năng xây dựng chính sách, có các biện pháp đấu tranh phòng, chống mua bán người nói chung và mua bán phụ nữ nói riêng. Bên cạnh đó, tác giả Lê Thị Hà (2009) trong bai viết Tình hình buôn bán phụ nữ, trẻ em ở Việt Nam và giải pháp phòng chong đã nghiên cứu về thực trạng mua bán phụ nữ ở Việt Nam; các nguyên nhân; tác động của việc gia nhập WTO tới nhóm dan di cư và có nguy cơ bị mua bán; Chính sách pháp luật về công tác phòng, chống mua bán phụ nữ, trẻ em. Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp để phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em. Bài viết đã bổ sung thêm cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho luận án, giúp tác giả luận án có thể kiến nghị, đề xuất các chế 19 độ, chính sách nhằm đấu tranh phòng, chống mua bán phụ nữ phù hợp hơn với tình hình hội nhập quốc tế.
Cùng với đó, tác giả Nguyễn Văn Hương (2009) trong nghiên cứu Đấu tranh phòng, chồng tội phạm mua bán phụ nữ ở Việt Nam đã bàn luận về tình hình tội phạm của tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam; Nguyên nhân, điều kiện của tội phạm mua bán phụ nữ ở Việt Nam; Từ đó, tác giả dự báo tình hình tội phạm và các biện pháp phòng chống tội mua bán phụ nữ ở Việt Nam. Đây là một luận án tiến sĩ có sự phân tích sâu sắc về tình hình tội phạm mua bán phụ nữ ở Việt Nam dưới góc độ của một tiễn sĩ luật học. Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Văn Hương chưa đề cập đến các chính sách hoặc các hoạt động trợ giúp phụ nữ bị mua bán trở về. Theo tác giả Lê Minh Thiện (2011) trong nghiên cứu 75c trạng buôn bán phụ nữ trẻ em và những hậu quả tâm lý của phụ nữ, trẻ em hoi hương sau khi bị buôn bán số lượng vu mua bán phụ nữ trong 5 năm từ 2005 đến 2009 có chiều hướng tăng nhanh; cách thức của nhóm tội phạm thực hiện hành vi mua bán phụ nữ và trẻ em; những hậu quả và những chia sẻ của nạn nhân.
Trong đó, tác giả có những phản ánh: “Một số phụ nữ sau khi trở về, lúc đầu trong cuộc sống gia đình cũng gặp những khó khăn, lo lắng về bệnh tật, sức khỏe suy giảm, họ lo lắng về sự chấp nhận của gia đình, chồng con, rồi cộng đồng nơi họ sinh sống, chỉ cần một câu nói cũng có thé gây tôn thương hoặc chạm đến nỗi đau của họ”. Tác giả cũng cho biết, những phụ nữ bị mua bán trở về bị rơi vào trạng thái tram cảm, ngai giao tiếp, bi khủng hoảng, trong những giấc ngủ ho còn mê sang bởi sự kinh hãi họ đã gặp phải. Những phát hiện của tác giả Lê Minh Thiện sẽ giúp tác giả luận án thay được những khó khăn của phụ nữ bị mua bản trở về, từ đó tiếp tục nghiên cứu và đưa ra các hoạt động hỗ tro dé dap ứng được nhu cầu của thân chủ và huy động nguồn lực từ cộng dong. Nguyên nhân khiến cho phụ nữ dé rơi vào tay của bọn buôn người là khá đa dạng.
Xét một cách chung nhất đó là do những nguyên nhân liên quan đến nghèo đói, thiếu việc làm nên phụ nữ luôn có xu hướng muốn tìm kiếm công việc ồn định, có thu nhập cao để cải thiện đời sống tại thành thị và nước ngoài. Chính vì khát vọng này, phụ nữ rất dé dàng bị rơi vào các đường dây buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiêu sô. Hơn 20 nữa, do ảnh hưởng bởi các luồng văn hóa độc hại, tệ nạn xã hội như là mại dâm, ma túy trong nước và khu vực, bọn tội phạm đã tận dụng điều kiện này để thực hiện hành vi độc ác của mình. Bên cạnh đó, nhận thức của cấp Ủy Đảng, chính quyền địa phương, các đoàn thé về tính chất nghiêm trọng của việc buôn bán người đang còn khá mơ hồ, hạn chế.
Trong khi công tác triển khai phòng, chống buôn bán người chưa được thực hiện đồng bộ thì bọn buôn người đã có những chiêu trò xảo tra dé thực hiện mưu đồ, mục dich của chúng. Ngoài sức hút bởi cơ hội về việc làm nhàn hạ với lương cao ở thành thị, thị xã cũng như là tại nước ngoài, phụ nữ còn bị hap dẫn bởi ước vọng đổi đời từ việc kết hôn với người nước ngoài. Nhưng thực tế, đó là những manh khóe, chiêu trò lừa bip xảo tra của tội phạm buôn bán người. Những người phụ nữ đó đều bị chung một số phận là bị bán cho người khác nhăm thỏa mãn lợi ích cho tội phạm buôn bán người.
Điền hình là nghiên cứu của tác giả Đỗ Thi Ninh Xuân (2005) trong nghiên cứu Buôn ban Phụ nữ và trẻ em ra nước ngoài: Một tệ nan can được phòng chong từ cong đông đưa ra các nguyên nhân và giải pháp phòng chống mua bán phụ nữ và trẻ em từ phía cộng đồng như: công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân; xây dựng ý thức đấu tranh, phát giác những biểu hiện, hành vi có nguy cơ cao; đối với các nạn nhân khi trở về phải tạo điều kiện tối đa cho họ hòa nhập cộng đồng như: giải quyết giấy tờ, thủ tục pháp lý, động viên, giúp đỡ họ vươn lên, tạo việc làm. Đặc biệt, không nên có biểu hiện kỳ thị, đối xử phân biệt trong cuộc sống và khuyến khích họ tham gia sinh hoạt trong các tô chức đoàn thê và cộng đồng địa phương. Đây là kiến thức mà luận án đang quan tâm. Tiếp đến là nghiên cứu Công (ác phòng, chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em — trách nhiệm của toàn xã hội của tác giả Thanh Tùng (2009) đề cập đến các nguyên nhân của nạn mua bán về kinh tế, nhận thức của người dân, ảnh hưởng của nhiều yếu tố xấu.
Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp phòng chống mua ban phụ nữ và trẻ em là: Nâng cao nhận thức người dân, tăng cường đấu tranh chống tội phạm, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật liên quan.