Tổng quan luận án

Tình hình tội phạm mua bán người mang tính chất xuyên quốc gia và diễn biến phức tạp. Theo số liệu thống kê được tác giả dẫn chứng, trong giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2019, Việt Nam ghi nhận 3.476 nạn nhân của các vụ mua bán người, trong đó trên 90% là phụ nữ và trẻ em, phần lớn thuộc các nhóm dân tộc thiểu số. Phân tích từ 1.232 vụ án do Bộ Công an điều tra cho thấy nạn nhân thường tập trung tại các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thuần nông hoặc không có việc làm ổn định, gặp trắc trở gia đình và có trình độ học vấn thấp. Khi bị lừa bán ra nước ngoài, phụ nữ phải đối mặt với nhiều hình thức bóc lột như cưỡng bức bán dâm, ép kết hôn với người khuyết tật, người cao tuổi hoặc làm vợ tập thể, bị bóc lột sức lao động, giam cầm và bạo lực thể xác lẫn tinh thần. Sau khi trốn thoát hoặc được giải cứu trở về, họ thường gặp các tổn thương nghiêm trọng về sức khỏe, sang chấn tâm lý, thiếu sự chia sẻ từ gia đình và chịu định kiến từ cộng đồng.

Tại tỉnh Hà Giang, địa bàn có nhiều đường mòn, lối mở và cửa khẩu giáp Trung Quốc, hoạt động mua bán người diễn ra phức tạp. Theo báo cáo tại Hội nghị sơ kết chỉ đạo điểm thực hiện chương trình phòng chống mua bán người giai đoạn 1 (2016–2018) của tỉnh Hà Giang, toàn tỉnh đã phát hiện 34 vụ với 45 đối tượng và 54 nạn nhân. Hai huyện vùng cao Đồng Văn và Mèo Vạc là những địa bàn trọng điểm do địa hình núi đá hiểm trở, giao thông chia cắt, dân cư thưa thớt, tạo điều kiện cho tội phạm lừa gạt phụ nữ đưa qua biên giới. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là phần lớn các công trình trong nước trước đây chỉ tập trung vào công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm hoặc nghiên cứu hoàn cảnh nạn nhân trong quá trình bị mua bán; rất ít công trình đi sâu nghiên cứu giai đoạn sau khi trở về, đặc biệt là hoạt động hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng dưới góc độ chuyên ngành Công tác xã hội.

Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu những khó khăn và nhu cầu tái hòa nhập cộng đồng của phụ nữ bị mua bán trở về tại huyện Đồng Văn và huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang; đánh giá thực trạng các hoạt động hỗ trợ hiện có của chính quyền, đoàn thể và cộng đồng; từ đó đề xuất mô hình trợ giúp dựa vào cộng đồng với sự tham gia của nhân viên công tác xã hội nhằm nâng cao hiệu quả tái hòa nhập.

Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm:

  1. Xây dựng cơ sở lý thuyết cho nghiên cứu về hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng đối với phụ nữ bị mua bán trở về.
  2. Khảo sát làm rõ thực trạng nhu cầu và những khó khăn của phụ nữ bị mua bán trở về trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng tại địa bàn nghiên cứu.
  3. Phân tích, chỉ ra hiệu quả của các chính sách và hoạt động hỗ trợ phụ nữ bị mua bán trở về trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng.
  4. Làm rõ những nguyên nhân và rào cản tác động đến hiệu quả của các hoạt động hỗ trợ phụ nữ bị mua bán trở về.
  5. Đề xuất mô hình trợ giúp tại cộng đồng nhằm hỗ trợ phụ nữ bị mua bán trở về và khuyến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả hỗ trợ, trong đó điểm mới là sự hiện diện của nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp.

Câu hỏi nghiên cứu:

  1. Những nhu cầu và những khó khăn mà phụ nữ bị mua bán trở về trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng là gì?
  2. Các chính sách và hoạt động hỗ trợ phụ nữ bị mua bán trở về trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng có hiệu quả như thế nào?
  3. Những nguyên nhân nào cản trở các hoạt động hỗ trợ phụ nữ bị mua bán trở về trong quá trình tái hòa nhập cộng đồng?
  4. Cần những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả của hoạt động hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ bị mua bán trở về?
  5. Vai trò của nhân viên công tác xã hội được thể hiện như thế nào trong hoạt động can thiệp trợ giúp phụ nữ mua bán trở về trong mô hình được đề xuất?

Giả thuyết nghiên cứu:

  1. Phụ nữ khi bị mua bán trở về tái hòa nhập cộng đồng có nhiều nhu cầu cần được hỗ trợ như: cung cấp thông tin và hỗ trợ pháp lý; hỗ trợ đời sống vật chất, sinh kế; chăm sóc sức khỏe; hỗ trợ tâm lý; hỗ trợ đào tạo nghề và giới thiệu việc làm; nâng cao nhận thức và kỹ năng sống.
  2. Các hoạt động hỗ trợ phần nào trợ giúp phụ nữ bị mua bán trở về tái hòa nhập cộng đồng, bao gồm hỗ trợ vật chất, phát triển sinh kế; đời sống văn hóa tinh thần; tiếp cận nguồn lực, dịch vụ; và an ninh, an toàn pháp lý.
  3. Phụ nữ bị mua bán trở về tại tỉnh Hà Giang gặp nhiều khó khăn trong tái hòa nhập cộng đồng như thủ tục pháp lý, áp lực kinh tế và sự kỳ thị của cộng đồng. Các hoạt động hỗ trợ của chính quyền địa phương đang triển khai đã trợ giúp một phần cho nạn nhân.
  4. Mô hình hỗ trợ phụ nữ tái hòa nhập cộng đồng tại địa phương có nhiều dịch vụ; mô hình trợ giúp dựa vào cộng đồng cần sự phối hợp của gia đình, họ hàng, bạn bè, Hội Phụ nữ, trạm y tế, ngân hàng chính sách, chính quyền cơ sở, tổ chức phi chính phủ và nhân viên công tác xã hội.
  5. Nhân viên công tác xã hội giữ vai trò quan trọng, trực tiếp tham gia hỗ trợ, đặc biệt là tham vấn tâm lý giúp nạn nhân ổn định đời sống khi trở về địa phương.

Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ bị mua bán trở về.

Khách thể nghiên cứu: Phụ nữ từ 18 đến 55 tuổi bị mua bán trở về; các thành viên trong gia đình nạn nhân; lãnh đạo chính quyền địa phương; người dân địa phương (hàng xóm, bạn bè); lãnh đạo các đoàn thể chính trị - xã hội; cán bộ làm việc trực tiếp với nạn nhân.

Phạm vi nghiên cứu:

  • Nội dung: Hoạt động hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ bị mua bán trở về.
  • Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 01/2017 đến tháng 03/2020.
  • Không gian nghiên cứu: Huyện Đồng Văn và huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm lại ba nhóm nghiên cứu chính trong và ngoài nước:

Nhóm nghiên cứu về mua bán người và mua bán phụ nữ:

  • Darryl Cook (1999), Tiziana Teribile (2000), Greg William J. phân tích nguyên nhân, thực trạng và khó khăn của nạn nhân trong quá trình bị mua bán.
  • Lê Thị Quý (2000) trong Vấn đề ngăn chặn nạn buôn bán phụ nữ ở Việt Nam làm rõ mạng lưới buôn bán, điều kiện sống tồi tệ của nạn nhân và tác động tiêu cực đến gia đình, cộng đồng cùng hệ thống pháp luật ngăn chặn.
  • Trần Minh Hưởng (2003) phân tích thủ đoạn tội phạm, nguyên nhân và các giải pháp đấu tranh hình sự nhưng chưa đề cập hoạt động hỗ trợ sau hồi hương.
  • Louis Brown (2004) trong Nô lệ tình dục và buôn bán phụ nữ ở Châu Á phản ánh tình trạng bóc lột tình dục, bạo lực thể xác và tổn thương tinh thần của nạn nhân.
  • Đỗ Thị Ninh Xuân (2005) đề xuất các giải pháp cộng đồng như tuyên truyền, hỗ trợ giấy tờ pháp lý, giải quyết việc làm và giảm kỳ thị.
  • Nguyễn Hồng Bắc (2006) chỉ ra ba giai đoạn của buôn bán người gồm tuyển dụng, di chuyển và bóc lột, phân tích an ninh con người và đề xuất can thiệp phòng ngừa.
  • Lê Thị Hà (2008, 2009) khảo sát thực trạng buôn bán phụ nữ, tác động di cư khi gia nhập WTO và chỉ ra bất cập trong tiếp nhận: 39,2% nạn nhân được hỗ trợ tài chính, 30,5% hỗ trợ tâm lý, 18,3% học nghề/tìm việc, 25,6% hỗ trợ pháp lý và 28,7% chăm sóc y tế; cơ sở vật chất tiếp nhận thiếu thốn, chủ yếu lồng ghép vào Trung tâm Bảo trợ xã hội.
  • Nguyễn Văn Hương (2009) tiếp cận tội phạm mua bán phụ nữ dưới góc độ luật học hình sự.
  • Lê Minh Thiện (2011) mô tả các chấn thương tâm lý như trầm cảm, sợ hãi, ngại giao tiếp và khủng hoảng tinh thần của nạn nhân sau khi trở về.

Nhóm nghiên cứu về tái hòa nhập cộng đồng và hoạt động hỗ trợ:

  • Các nghiên cứu của Vũ Đức Trung (2001), Báo cáo đưa trẻ em lang thang về với gia đình (2003), Ngô Thị Ngọc Anh (2004), Trần Thị Tân Hương (2005), Nguyễn Thị Thu Hòa (2012) phân tích vai trò của mạng lưới xã hội (gia đình, họ hàng, bạn bè, đoàn thể) trong việc nâng đỡ các nhóm yếu thế như trẻ lang thang, phụ nữ chấp hành xong án phạt tù tái hòa nhập.
  • Quỹ Châu Á (2008) tổng kết chương trình giai đoạn 2002–2007 tại An Giang, ghi nhận việc dạy nghề (may đo, uốn tóc, kế toán), cấp vốn sản xuất, tập huấn kỹ năng sống và trợ giúp pháp lý cho 65 trường hợp.
  • Lưu Song Hà và cộng sự (2010) mô tả mạng lưới tiếp nhận, chuyển tuyến và phân loại khó khăn của nạn nhân bị bán làm vợ hoặc bán vào cơ sở mại dâm tại Trung Quốc.
  • Thảo Vân (2010) chỉ ra các hạn chế thực tế: nạn nhân trở về rải rác khó thống kê, thiếu cơ sở tiếp nhận tại cửa khẩu, hỗ trợ học nghề tạo việc làm đạt tỷ lệ thấp, thủ tục xác minh nạn nhân tự trở về còn vướng mắc.
  • IOM (2012) đánh giá mô hình Trung tâm tiếp nhận và Nhóm Tự lực, nhấn mạnh cách tiếp cận dựa trên quyền và lấy nạn nhân làm trung tâm.
  • Ngô Thị Thanh Mai và Nguyễn Thu Hà (2012) hệ thống hóa vai trò của nhân viên công tác xã hội gồm: biện hộ, hỗ trợ/tạo điều kiện, kết nối nguồn lực, giáo dục nhận thức và làm tác nhân thay đổi.
  • Zimmerman và cộng sự (2014) khảo sát tại Campuchia, Thái Lan và Việt Nam, chứng minh các tổn hại sức khỏe thể chất và tâm thần kéo dài của nạn nhân.
  • Nguyễn Minh Hoàng, Trần Văn Kham, Lưu Thị Lịch (2015) nghiên cứu tái hòa nhập cho người di cư trái phép sang Anh hồi hương, đề xuất mô hình công tác xã hội dựa vào cộng đồng.
  • Rebecca Surtees (2016) trong tài liệu hướng dẫn cho khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng xác lập các thành tố tái hòa nhập thành công gồm: an toàn, mức sống hợp lý, sức khỏe ổn định, cơ hội phát triển, hỗ trợ xã hội và quản lý ca lâu dài.

Nhóm nghiên cứu về chính sách, pháp luật:

  • Trần Minh Hưởng (2006), Vũ Hoàng Lam (2007), Nguyễn Quang Dũng (2007), Nguyễn Văn Cảnh (2007), Lê Thị Hà (2012), Nguyễn Khắc Hải (2013) phân tích khung pháp lý, khái niệm mua bán người theo Bộ luật Hình sự, các điều ước quốc tế, chỉ ra bất cập trong chính sách xác định nạn nhân tự trở về qua đường tiểu ngạch và định mức hỗ trợ ban đầu còn thấp.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Phần lớn công trình hiện có tập trung vào khía cạnh tội phạm học, xử lý hình sự hoặc hỗ trợ ban đầu tại trung tâm bảo trợ. Luận án chọn giải quyết khoảng trống về quy trình hỗ trợ lâu dài tại cộng đồng miền núi biên giới, nơi có điều kiện địa lý hiểm trở và đa số đồng bào dân tộc thiểu số, thông qua việc ứng dụng lý thuyết và phương pháp công tác xã hội chuyên nghiệp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng ba lý thuyết khoa học chuyên ngành:

  1. Lý thuyết Nhu cầu của Abraham Maslow (thập niên 1950): Hệ thống hóa nhu cầu con người theo 5 cấp bậc từ nhu cầu sinh lý cơ bản, an toàn, xã hội, được quý trọng đến thể hiện bản thân. Tác giả vận dụng để nhận diện 6 nhóm nhu cầu cốt lõi của phụ nữ sau mua bán trở về: chăm sóc y tế, an toàn pháp lý, ổn định tâm lý, tái hòa nhập môi trường sống, đào tạo nghề - tạo việc làm, và nâng cao nhận thức - kỹ năng sống.
  2. Lý thuyết Thân chủ - trọng tâm (Carl Rogers): Đặt nạn nhân ở vị trí trung tâm của tiến trình trợ giúp; nhân viên công tác xã hội giữ thái độ tôn trọng, lắng nghe, thấu cảm, không phán xét, tạo điều kiện để thân chủ tự quyết định các giải pháp cho cuộc đời mình.
  3. Lý thuyết Hòa nhập xã hội: Phân tích sự tương tác giữa cá nhân và môi trường xung quanh, mức độ tham gia của nạn nhân vào các thiết chế gia đình, kinh tế, văn hóa và mạng lưới xã hội tại địa phương.

Các khái niệm công cụ sử dụng trong nghiên cứu:

  • Mua bán người: Dẫn chiếu theo Điều 3 Nghị định thư Palermo (Liên Hợp Quốc, 2000) và Luật Phòng, chống mua bán người năm 2011 của Việt Nam (có hiệu lực từ ngày 01/01/2012).
  • Phụ nữ bị mua bán trở về: Bao gồm những nạn nhân nữ được giải cứu, tiếp nhận chính thức qua các cơ quan chức năng hoặc tự trốn thoát trở về địa phương được gia đình, cộng đồng ghi nhận.
  • Tái hòa nhập cộng đồng: Được định nghĩa theo Rebecca Surtees (2016) và tác giả là tiến trình phục hồi toàn diện về thể chất, tâm lý, kinh tế và xã hội của nạn nhân khi trở về nơi cư trú.
  • Nhân viên công tác xã hội: Theo định nghĩa của Hiệp hội các nhà công tác xã hội quốc tế (IFSW/IASW), là người có chuyên môn đào tạo, thực hiện vai trò kết nối nguồn lực, tham vấn và nâng cao năng lực giải quyết vấn đề cho thân chủ.
  • Hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng: Tổng thể các biện pháp trợ giúp pháp lý, y tế, tâm lý, sinh kế và truyền thông giảm định kiến.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng:

  • Phân tích tài liệu thứ cấp: Các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thực hiện Chương trình 130/CP, Đề án II giai đoạn 2004–2010 và 2011–2015, báo cáo của tỉnh Hà Giang.
  • Phỏng vấn sâu: Thực hiện từ tháng 5/2018 trên 18 khách thể, bao gồm: 8 phụ nữ bị mua bán trở về (độ tuổi 18–55); 6 cán bộ quản lý địa phương và ban ngành đoàn thể; 2 người thân trong gia đình nạn nhân; 2 người dân hàng xóm.
  • Thảo luận nhóm tập trung: Tổ chức 4 cuộc thảo luận nhóm, quy mô mỗi nhóm 8–12 người, thành phần gồm nam giới, phụ nữ, cán bộ xã, đại diện đoàn thể và tổ chức tự nguyện.
  • Nghiên cứu trường hợp điển hình: Đi sâu vào các ca cá biệt nhằm ghi nhận quá trình bị lừa bán, trốn thoát và các rào cản khi hồi hương.
  • Điều tra bằng bảng hỏi: Khảo sát 194 người tại huyện Đồng Văn và huyện Mèo Vạc. Khung mẫu ngẫu nhiên đơn giản qua 5 bước chọn mẫu. Khách thể khảo sát là cán bộ chính quyền, ban ngành đoàn thể, hàng xóm và thân nhân người bị mua bán (những người trực tiếp tiếp xúc và tham gia trợ giúp).
  • Xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS với hai công cụ thống kê mô tả là Frequencies (tần số, tỷ lệ phần trăm) và Crosstabs (bảng tra chéo phân tích tương quan).

Bảng cơ cấu mẫu khảo sát định lượng (N = 194):

Đặc điểm nhân khẩu học Phân loại Huyện Đồng Văn (n = 100) - Tần số Huyện Đồng Văn (n = 100) - Tỷ lệ (%) Huyện Mèo Vạc (n = 94) - Tần số Huyện Mèo Vạc (n = 94) - Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 17 17,0 47 50,0
Nữ 83 83,0 47 50,0
Độ tuổi Từ 18 đến 25 tuổi 30 30,0 10 10,6
Trên 25 đến 32 tuổi 27 27,0 26 27,7
Trên 32 đến 39 tuổi 25 25,0 21 22,3
Trên 39 tuổi 18 18,0 37 39,4
Trình độ học vấn Mù chữ 46 46,0 30 31,9
Tiểu học 19 19,0 8 8,5
Trung học cơ sở 15 15,0 27 28,7
Trung học phổ thông 15 15,0 10 10,6
Cao đẳng, đại học 3 3,0 18 19,1
Trên đại học 2 2,0 1 1,1
Tôn giáo Thiên Chúa giáo 1 1,0 0 0,0
Đạo Phật 0 0,0 7 7,9
Tin lành 1 1,0 4 4,5
Tôn giáo khác 2 2,0 1 1,1
Không theo tôn giáo nào 92 92,0 77 86,5
Dân tộc Kinh 6 6,1 21 22,3
Tày 3 3,1 13 13,8
H'Mông 63 64,3 49 52,1
Khác 26 26,5 11 11,7
Nghề nghiệp Làm nông nghiệp 57 57,6 52 55,3
Kinh doanh, buôn bán 7 7,1 14 14,9
Lao động tự do 26 26,3 9 9,6
Không có việc làm 7 7,1 1 1,1
Khác 2 2,0 18 19,1
Tổng số 100 100,0 94 100,0

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học liên quan đến đề tài theo ba nhóm: tội phạm mua bán người và mua bán phụ nữ; quá trình hòa nhập của các nhóm đặc thù sau hồi hương; và các chính sách, mô hình hỗ trợ hiện nay. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước chủ yếu phân tích thực trạng ở khâu phòng ngừa, truy tố hoặc chỉ đánh giá chung tình hình tái hòa nhập của người chấp hành xong án phạt tù hay người di cư bất hợp pháp. Hoạt động trợ giúp phụ nữ bị mua bán sau khi trở về còn bị bỏ ngỏ, thiếu các dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm tại chỗ, đặc biệt là thiếu vắng sự tiếp cận dưới góc độ công tác xã hội chuyên nghiệp. Từ đó, chương này khẳng định tính cần thiết và xác định rõ định hướng nghiên cứu của đề tài.

Chương 2: Cơ sở lý luận về hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho phụ nữ bị mua bán trở về

Chương 2 làm rõ các khái niệm nền tảng: mua bán người, phụ nữ bị mua bán trở về, tái hòa nhập cộng đồng, nhân viên công tác xã hội và hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng. Tác giả luận giải việc áp dụng ba lý thuyết: Lý thuyết Nhu cầu (Maslow), Lý thuyết Thân chủ - trọng tâm (Carl Rogers) và Lý thuyết Hòa nhập xã hội để định khung can thiệp. Bên cạnh đó, chương 2 tổng quan bối cảnh tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Hà Giang, tập trung vào hai huyện biên giới Đồng Văn và Mèo Vạc với đặc thù tỷ lệ người mù chữ cao, địa hình hiểm trở và tỷ lệ đồng bào H'Mông chiếm đa số. Tác giả cũng rà soát hệ thống luật pháp, văn bản chính sách của Nhà nước liên quan đến tiếp nhận, bảo vệ nạn nhân bị mua bán, đánh giá thực trạng công tác phòng chống tội phạm mua bán người tại địa phương.

Chương 3: Những khó khăn, nhu cầu và hoạt động hỗ trợ phụ nữ bị mua bán trở về tại Hà Giang

Chương 3 trình bày các kết quả khảo sát thực địa. Về thực trạng, phương thức lừa bán chủ yếu là lợi dụng quan hệ tình cảm, lời hứa hẹn việc làm lương cao hoặc kết hôn đổi đời để đưa phụ nữ qua biên giới sang Trung Quốc. Phương thức trở về gồm tự trốn thoát hoặc được lực lượng chức năng hai nước phối hợp giải cứu (phản ánh tại Biểu đồ 3.1). Đặc điểm nhân khẩu của nhóm nạn nhân (Hộp 1) cho thấy phần lớn có trình độ học vấn thấp, nghèo đói, thiếu kiến thức xã hội.

Các khó khăn của nạn nhân được tổng hợp qua khảo sát (Bảng 3.2 và Hộp 2 đến Hộp 7) bao gồm: sang chấn tâm lý, mặc cảm tội lỗi, lo sợ bị kỳ thị, thể chất suy giảm, mất nguồn tư liệu sản xuất và khó khăn trong thủ tục đăng ký hộ khẩu, giấy tờ tùy thân. Luận án phân tích 4 nhóm nhu cầu cấp bách:

  1. Nhu cầu vật chất và sinh kế: Hỗ trợ lương thực khẩn cấp, cấp vốn vay ưu đãi, cung cấp giống cây trồng, vật nuôi và đào tạo nghề phù hợp với thực tế nương rẫy (Bảng 3.3).
  2. Nhu cầu văn hóa tinh thần: Xóa bỏ định kiến, được cộng đồng chấp nhận, tham gia các hoạt động văn hóa đoàn thể (Bảng 3.4).
  3. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe và hỗ trợ tâm lý: Khám chữa bệnh tổng thể, điều trị bệnh lây truyền qua đường tình dục, tham vấn giải tỏa khủng hoảng tâm lý (Bảng 3.5).
  4. Nhu cầu an ninh, an toàn pháp lý: Khôi phục hộ tịch, làm chứng minh nhân dân/căn cước công dân, khai sinh cho con mang theo khi trở về, bảo vệ an toàn trước nguy cơ bị trả thù hoặc tái mua bán (Bảng 3.6 và Bảng 3.7).

Đánh giá thực trạng các hoạt động hỗ trợ tại Hà Giang (Bảng 3.8 đến Bảng 3.11): Công tác hỗ trợ ban đầu về an ninh, y tế được lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng và chính quyền xã thực hiện; tuy nhiên, dịch vụ hỗ trợ sinh kế lâu dài, chăm sóc sức khỏe tâm thần chuyên sâu và dạy nghề còn thiếu hụt nguồn lực, hoạt động hỗ trợ chủ yếu lồng ghép trong các chương trình giảm nghèo chung, chưa có nhân sự công tác xã hội chuyên trách tại cộng đồng.

Chương 4: Mô hình hỗ trợ phụ nữ bị mua bán trở về tái hòa nhập cộng đồng tại Hà Giang

Chương 4 phân tích ưu điểm và hạn chế của các mô hình hiện nay như Mô hình Trung tâm tiếp nhận và nhóm tự lực, Mô hình Ngôi nhà bình yên. Nhận thấy các mô hình tập trung này khó bao phủ tới vùng sâu, vùng xa do phụ nữ có xu hướng trở về thẳng gia đình và e ngại sống tại trung tâm tập trung, tác giả đề xuất Mô hình trợ giúp dựa vào cộng đồng (Sơ đồ 4.1 và 4.2).

Mô hình thiết lập mạng lưới liên kết chặt chẽ giữa: Gia đình/họ hàng - Hội Phụ nữ cơ sở - Trạm y tế/bệnh viện - Ngân hàng chính sách/tổ chức tín dụng - Chính quyền thôn, xã - Các tổ chức phi chính phủ, với trung tâm điều phối là Nhân viên công tác xã hội. Luận án chi tiết hóa quy trình can thiệp gồm các bước: tiếp cận ban đầu, đánh giá nhu cầu toàn diện, xây dựng kế hoạch trợ giúp cá nhân, kết nối dịch vụ, hỗ trợ tâm lý - pháp lý - kinh tế, giám sát thực hiện và lượng giá ca. Nhân viên công tác xã hội đảm nhận các vai trò: người tham vấn tâm lý, người biện hộ quyền lợi, người kết nối nguồn lực và tác nhân thúc đẩy hòa nhập xã hội.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận:

  • Luận án vận dụng và kiểm chứng ba lý thuyết: Lý thuyết Nhu cầu, Lý thuyết Thân chủ - trọng tâm và Lý thuyết Hòa nhập xã hội trong việc phân tích tiến trình phục hồi của phụ nữ bị mua bán trở về tại địa bàn đặc thù vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Đóng góp vào việc cụ thể hóa hệ thống khái niệm công tác xã hội chuyên ngành liên quan đến nạn nhân mua bán người và tái hòa nhập cộng đồng trong bối cảnh xã hội Việt Nam đương đại.

Đóng góp mới về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về đặc điểm, nhu cầu cấp bách và những rào cản xã hội mà phụ nữ bị mua bán trở về đang đối mặt tại hai huyện biên giới Đồng Văn và Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang.
  • Đánh giá cụ thể thực trạng cung cấp dịch vụ hỗ trợ tại địa phương, chỉ ra các khoảng trống trong phối hợp liên ngành và phân bổ nguồn lực.
  • Đề xuất mô hình hỗ trợ dựa vào cộng đồng có sự tham gia của nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp. Mô hình xác định rõ quy trình tiếp cận, quản lý ca và cơ chế huy động mạng lưới xã hội tại địa bàn cơ sở.

Khuyến nghị và giải pháp:

  • Hoàn thiện khung khổ pháp lý: Sửa đổi, bổ sung các quy định về xác minh nạn nhân theo hướng mở, linh hoạt cho nhóm nạn nhân tự trở về qua đường tiểu ngạch; tăng mức trợ cấp khó khăn ban đầu và đơn giản hóa thủ tục cấp giấy tờ tùy thân, hộ khẩu, khai sinh cho trẻ em đi cùng mẹ.
  • Phát triển nhân lực công tác xã hội: Xây dựng vị trí việc làm và bố trí nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp hoặc cán bộ kiêm nhiệm được đào tạo kỹ năng công tác xã hội tại cấp xã/huyện vùng cao.
  • Nâng cao hiệu quả hỗ trợ sinh kế: Thiết kế các chương trình đào tạo nghề và cho vay vốn gắn liền với đặc thù sản xuất nông lâm nghiệp bản địa thay vì các nghề phi nông nghiệp không phù hợp.
  • Tăng cường truyền thông cộng đồng: Đẩy mạnh tuyên truyền bằng tiếng dân tộc (đặc biệt là tiếng H'Mông) nhằm giảm thiểu định kiến, xóa bỏ thái độ kỳ thị của cộng đồng đối với phụ nữ bị mua bán trở về.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Luận án chỉ tập trung vào nhóm phụ nữ bị mua bán sang Trung Quốc cư trú tại huyện Đồng Văn và huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang; chưa bao quát các nhóm nạn nhân bị mua bán sang các quốc gia khác (như Lào, Campuchia, Hàn Quốc, Đài Loan) hoặc các hình thức mua bán nội địa vì mục đích cưỡng bức lao động tại bãi vàng, tàu cá hay cơ sở sản xuất.
  • Giới hạn trong tiếp cận mẫu khảo sát định lượng: Do địa bàn vùng núi đá hiểm trở, giao thông khó khăn, dân cư sống phân tán và số lượng nạn nhân trở về tại các xã không tập trung, cùng với rào cản tâm lý e ngại tiếp xúc của nạn nhân, tác giả không thể thu thập bảng hỏi số lượng lớn trực tiếp từ phụ nữ bị mua bán trở về. Phương pháp bảng hỏi (N = 194) chỉ áp dụng đối với cán bộ quản lý, người dân và thân nhân; thông tin từ chính nạn nhân được thu thập thông qua phỏng vấn sâu 8 trường hợp và phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát định lượng trực tiếp trên nhóm nạn nhân bị mua bán trở về tại nhiều tỉnh biên giới phía Bắc và Tây Nam.
  • Thực hiện các nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal studies) nhằm đánh giá mức độ ổn định sinh kế, sức khỏe tâm thần và tính bền vững của các trường hợp sau khi được mô hình công tác xã hội dựa vào cộng đồng can thiệp trợ giúp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Tội phạm học và Luật học: Tham khảo khung lý thuyết, phương pháp tiếp cận nghiên cứu kết hợp định tính - định lượng và bộ công cụ khảo sát nhu cầu thân chủ yếu thế.
  • Cơ quan hoạch định chính sách (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Ủy ban Dân tộc): Sử dụng các số liệu thực chứng để điều chỉnh chính sách trợ cấp xã hội, hướng dẫn thủ tục xác nhận nạn nhân tự trở về và xây dựng mạng lưới dịch vụ xã hội thân thiện.
  • Cán bộ thực hành công tác xã hội, lực lượng Công an, Bộ đội Biên phòng và chính quyền địa phương tại các tỉnh miền núi, biên giới: Vận dụng mô hình hỗ trợ dựa vào cộng đồng và quy trình can thiệp ca để phối hợp tiếp nhận, tham vấn tâm lý, bảo vệ pháp lý và hỗ trợ sinh kế cho phụ nữ bị mua bán trở về.

Phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất là Chương 3 (phân tích thực trạng nhu cầu và các rào cản thực tế) và Chương 4 (mô hình trợ giúp dựa vào cộng đồng cùng quy trình phối hợp của nhân viên công tác xã hội).

Câu hỏi thường gặp

1. Tình hình nạn nhân mua bán người tại Việt Nam và tại tỉnh Hà Giang trong giai đoạn nghiên cứu được ghi nhận như thế nào? Theo số liệu trong luận án, giai đoạn 2013–2019, cả nước ghi nhận 3.476 nạn nhân bị mua bán, trong đó trên 90% là phụ nữ và trẻ em, chủ yếu là người dân tộc thiểu số. Qua điều tra 1.232 vụ của Bộ Công an, nạn nhân chủ yếu ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, khó khăn kinh tế và học vấn thấp. Tại tỉnh Hà Giang, giai đoạn 2016–2018 phát hiện 34 vụ với 45 đối tượng và 54 nạn nhân bị mua bán; hai huyện Đồng Văn và Mèo Vạc là những điểm nóng do tiếp giáp biên giới Trung Quốc và địa hình hiểm trở.

2. Khảo sát định lượng của luận án được tiến hành với quy mô và cơ cấu mẫu như thế nào? Tác giả đã phát 194 phiếu hỏi tại hai huyện: Đồng Văn (100 người) và Mèo Vạc (94 người). Mẫu khảo sát gồm lãnh đạo chính quyền địa phương, ban ngành đoàn thể, người dân hàng xóm và thân nhân người bị mua bán. Trong mẫu nghiên cứu: người dân tộc H'Mông chiếm 64,3% (Đồng Văn) và 52,1% (Mèo Vạc); người mù chữ chiếm 46,0% (Đồng Văn) và 31,9% (Mèo Vạc); nghề làm nông nghiệp chiếm 57,6% (Đồng Văn) và 55,3% (Mèo Vạc).

3. Khung lý thuyết của luận án gồm những lý thuyết nào và được áp dụng ra sao? Luận án sử dụng ba lý thuyết chính: Lý thuyết Nhu cầu của Maslow (nhận diện và phân cấp 6 nhóm nhu cầu: y tế, pháp lý, tâm lý, hòa nhập, việc làm, kỹ năng sống); Lý thuyết Thân chủ - trọng tâm của Carl Rogers (lắng nghe, tôn trọng phẩm giá và quyền tự quyết của nạn nhân); và Lý thuyết Hòa nhập xã hội (đánh giá sự tương tác giữa nạn nhân với gia đình, cộng đồng và các thiết chế xã hội).

4. Điểm mới của mô hình can thiệp hỗ trợ tái hòa nhập do luận án đề xuất là gì? Điểm mới là việc xây dựng mô hình trợ giúp dựa vào cộng đồng với sự hiện diện của nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp làm đầu mối. Nhân viên công tác xã hội trực tiếp quản lý ca, tham vấn tâm lý, biện hộ quyền lợi và điều phối sự hỗ trợ từ gia đình, họ hàng, Hội Phụ nữ, trạm y tế, ngân hàng chính sách và chính quyền cơ sở, khắc phục tình trạng thiếu hụt dịch vụ hỗ trợ sau giai đoạn tiếp nhận ban đầu.

5. Vì sao nghiên cứu không thực hiện điều tra bằng bảng hỏi trực tiếp trên diện rộng đối với phụ nữ bị mua bán trở về? Do địa hình vùng cao hiểm trở, dân cư thưa thớt, phụ nữ bị mua bán trở về sinh sống rải rác khắp các bản làng xa xôi và có tâm lý e ngại, mặc cảm, tránh né tiếp xúc công khai. Do đó, tác giả chỉ có thể tiếp cận nạn nhân bằng phương pháp nghiên cứu trường hợp và phỏng vấn sâu 8 phụ nữ bị mua bán trở về, còn bảng hỏi định lượng (194 phiếu) được triển khai trên nhóm đối tượng là cán bộ, thân nhân và người dân địa phương.

Kết luận

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Công tác xã hội của tác giả Nguyễn Văn Vệ đã làm rõ thực trạng khó khăn và nhu cầu tái hòa nhập cộng đồng của phụ nữ bị mua bán trở về tại hai huyện vùng cao Đồng Văn và Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Công trình chỉ ra những khoảng trống trong hệ thống dịch vụ hỗ trợ hiện tại, đặc biệt là sự thiếu hụt các can thiệp chuyên sâu về tâm lý, sinh kế dài hạn và hỗ trợ xã hội hóa tại cơ sở. Trên cơ sở vận dụng lý thuyết Nhu cầu, Thân chủ - trọng tâm và Hòa nhập xã hội, luận án đề xuất mô hình trợ giúp dựa vào cộng đồng gắn liền với vai trò điều phối của nhân viên công tác xã hội, mang lại giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn trong công tác an sinh xã hội tại các địa bàn miền núi biên giới.