Chương 1. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu Chương 2. Thực trạng sử dụng vốn vay ngân hàng chính sách xã hội của phụ nữ và các hoạt động hỗ trợ từ công tác xã hội tại xã Thuận Hóa, huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com NỘI DUNG CHÍNH Chƣơng 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 1. Lý thuyết về vị trí - vai trò xã hội Thuyết vị trí vai trò trong xã hội nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của xã hội và cho rằng mỗi cá nhân có một vị trí xã hội nhất định, được thừa nhận trong cơ cấu xã hội, gắn liền với những quyền lợi, nghĩa vụ hay kỳ vọng để định hướng cho những hành vi xã hội của cá nhân đó. Nó được xác định trong sự đối chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác [19, tr. Mỗi xã hội có cơ cấu phức tạp bao gồm các vị trí, vai trò xã hội khác nhau.
Lý thuyết về vị trí - vai trò xã hội cho rằng, mỗi cá nhân có một vị trí xã hội là vị trí tương đối trong cơ cấu xã hội, hệ thống quan hệ xã hội. Nó được xác định trong sự đối chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác nhau. Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn với những trách nhiệm và quyền hạn kèm theo. Mỗi cá nhân có vị trí xã hội khác nhau, do đó cũng có nhiều vị thế khác nhau.
Những vị thế xã hội của cá nhân có thể là: vị thế đơn lẻ, vị thế tổng quát hoặc có thể chia theo cách khác là: vị thế có sẵn - được gắn cho, vị thế đạt được, một số vị thế vừa mang tính có sẵn, vừa mang tính đạt được [21, tr. Vai trò của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng. Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội. Những đòi hỏi đó luôn dựa vào các chuẩn mực của xã hội.
Tùy thuộc vào đặc thù văn hóa của mỗi vùng, của mỗi dân tộc mà có những chuẩn mực riêng của nó. Vì vậy một vị thế xã hội nhưng tùy vào dặc thù của xã hội đó mà có những vai trò khác nhau. Trong Công tác xã hội, thuyết này được ứng dụng để khi tiếp cận với đối tượng thì nhân viên công tác xã hội phải hiểu rõ từng vị trí mà họ đuợc thừa nhận trong gia đình và ngoài xã hội. Khi con người có tiếng nói riêng 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của mình, được gia đình và xã hội coi trọng thì họ sẽ thực hiện tốt các vai trò của mình và sẽ đáp ứng được nhiều mọng đợi từ người khác.
Lý thuyết vị trí - vai trò xã hội được sử dụng trong luận văn này nhằm mục đích nói lên rằng trong công tác xã hội khi hoạt động ở từng lĩnh vực cụ thể thì cũng có những vai trò cụ thể đối với từng lĩnh vực. Trong công tác hỗ trợ phụ nữ sử dụng vốn vay ngân hàng chính sách xã hội thì nhân viên công tác xã hội có vai trò như thế nào để hỗ trợ cho họ sử dụng đúng mục đích với nguồn vốn vay. Với vai trò là một nhân viên công tác thì phải làm gì để trợ giúp họ sử dụng nguồn vốn vay đem lại hiệu quả và đáp ứng được yêu cầu của nghề nghiệp. Trong quá trình hỗ trợ phụ nữ sử dụng vốn vay thì nhân viên công tác xã hội phải hiểu rõ vai trò và vị thế của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội như thế nào và họ đã thực hiện đúng vai trò của mình hay chưa? Từ việc hiểu rõ vai trò của đối tượng và hiểu rõ những yêu cầu về vai trò của người phụ nữ mà chuẩn mục xã hội yêu cầu thì nhân viên công tác xã hội dễ dàng hỗ trợ họ trong việc thực hiện vai trò của người phụ nữ cũng như việc hỗ trợ họ sử dụng nguồn vốn vay đúng mục đích để mạng lại hiệu quả, giúp họ có cơ hội tham gia vào quá trình lao động sản xuất cũng như tham gia các hoạt động xã hội.
Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Mỗi con con sinh ra trong xã hội ai cũng có những nhu cầu cho cuộc sống sinh tồn của mình, đó là nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần. Các nhu cầu đó rất đa dạng, phong phú và phát triển. Nhu cầu của con người phản ánh những mong muốn chủ quan hoặc khách quan tùy theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa, nhận thức và vị trí xã hội của họ. Để tồn tại và phát triển trong xã hội, con người cần phải đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như: ăn, mặc, ở và chăm sóc y tế… rồi đến các nhu cầu cao hơn như: nhu cầu được an toàn, được học hành, được yêu thương, được tôn trọng và phát triển.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khi con người được đáp ứng các nhu cầu cơ bản thì họ mới có động lực và đó cũng chính là điều kiện để được đáp ứng các nhu cầu cao hơn. Theo thuyết động cơ của Maslow, con người là một thực thể sinh - tâm lý xã hội. Dó đó, con người có nhu cầu cá nhân cần cho sự sống (nhu cầu về sinh học) và nhu cầu về xã hội. Ông chia nhu cầu con người thành 5 bậc thang từ thấp đến cao: - Nhu cầu sống còn, bao gồm: nhu cầu về không khí, nước, thức ăn, quần áo, nhà ở, nghỉ ngơi… - Nhu cầu an toàn: Ai cũng có mong muốn được sống trong một thế giới hòa bình, không có chiến tranh, không có bạo lực, kể cả trong những trường hợp bị mất kế sinh nhai được Nhà nước và xã hội bảo vệ và giúp đỡ.
- Nhu cầu thuộc vào một nhóm nào đó: Là con người xã hội, con người có các nhu cầu giao tiếp, nhu cầu sự yêu thương, chia sẻ. Họ không muốn có sự cô đơn, bị bỏ ra ngoài lề xã hội, họ mong muốn có hạnh phúc gia đình, sự tham gia và thuộc một nhóm nào đó (gia đình, bạn bè, cộng đồng). - Nhu cầu được tôn trọng: Tự trọng là giá trị của chính cá nhân mỗi người; được người khác tôn trọng là sự mong muốn được người khác thừa nhận giá trị của mình. - Nhu cầu hoàn thiện: Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn tự khẳng định mình và được xã hội tạo điều kiện để hoàn thiện và phát riển cá nhân [15, tr.
Tuy nhiên, không phải trong xã hội, ai cũng luôn được đáp ứng các nhu cầu đó một cách đầy đủ, vẫn tồn tại những con người thiếu thốn các nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu của các nhân và gia đình. Có những người có nguy cơ bị đe dọa đến cuộc sống thường ngày. Vì vậy, những người này rất cần được sự giúp đỡ của Nhà nước và xã hội. Dựa vào thuyết nhu cầu để nhận định những nhu cầu nói chung của con người.
Tuy nhiên, phải tùy vào hoàn cảnh của từng cá nhân và gia đình cụ thể 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com để xem xét họ đang thiếu và cần những nhu cầu gì. Vì họ là những cá thể khác nhau nên họ có những nhu cầu khác nhau. Vì thế khi tiếp cận theo những nhu cầu sẽ giúp nhân viên xã hội hiểu rõ từng hoàn cảnh sống của từng cá nhân khác nhau và sẽ hiểu rõ hơn những nhu cầu mà cá nhân họ đang cần để khi hỗ trợ và cung cấp các dịch không theo hướng chủ quan. Tiếp cận theo nhu cầu giúp nhân viên xã hội thấu hiểu được tâm tư nguyện vọng của đối tượng, biết họ đang cần và thiếu cái gì và biết lắng nghe để cảm thông với những mong muốn của đối tượng.
Vì thế, khi hiểu rõ những nhu cầu mà đối tượng đang cần thì nhân viên xã hội cố gắng để động viên khích lệ họ tham gia vào thực hiện các hoạt động và cùng với sự hỗ trợ từ các nguồn lực nhằm đạt được nhu cầu mà họ đang mong muốn. Trong xã hội, thường có những cá nhân thiếu các nguồn lực để đáp ứng các nhu cầu cơ bản nên họ không có khả năng đảm bảo được cuộc sống của mình, có thể bị đe dọa đến sự an toàn của cuộc sống. Vì thế họ rất cần đến sự trợ giúp của xã hội. Khi các nhu cầu cơ bản của cuộc sống được đáp ứng chính là động cơ để thúc đẩy họ tham gia vào các hoạt động sản xuất và các hoạt động trong xã hội.
Từ đó giúp họ tăng năng lực và tự chủ trong cuộc sống hàng ngày. Trong luận văn này, tác giả sử dụng thuyết nhu cầu nhằm nói lên rằng, mỗi con người trong xã hội ai cũng có những nhu cầu đó, nhưng tùy theo hoàn cảnh sống và địa vị của từng con người mà họ có những nhu cầu khác nhau. Từng đối tượng như phụ nữ, trẻ em hay người cao tuổi… họ đều có những cầu khác nhau trong cuộc sống thường ngày của mình. Đối với phụ nữ, họ vừa là người chăm lo cho gia đình, vừa là người tham gia lao động sản xuất và tham gia các hoạt động ngoài xã hội nên trong cuộc sống họ cũng có những nhu cầu chưa đươc đáp ứng và rất cần sự trợ giúp của xã hội.
Ví dụ, phụ nữ có nhu cầu vay vốn nhưng khi vay vốn về họ chưa biết cách sử dụng nguồn vốn như thế nào để mang lại hiệu quả. Đây cũng là một trong những 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhu cầu mà họ đang cần sự trợ giúp. Khi nhu cầu này được đáp ứng cũng chính là động lực để họ tham gia vào quá trình sản xuất cũng như các hoạt động xã hội, nhằm tạo điều kiện cho họ nâng cao năng lực và ngày càng phát triển hoàn thiện hơn. Các khái niệm công cụ liên quan 1.
Khái niệm Công tác xã hội và nhân viên công tác xã hội Khái niệm Công tác xã hội Công tác xã hội là một ngành đã có từ rất lâu trên thế giới nhưng ở Việt Nam là một ngành tương đối mới mẻ, nó được hình thành trên cơ sở những tình cảm tốt đẹp giữa con người với con người. Trải qua các giai đoạn phát triển, ngành công tác xã hội ở Việt Nam gắn liền với tình thần nhân đạo tình yêu thương con người và quá trình phát triển của các luật lệ, chính sách xã hội.