phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung của Luận văn gồm ba chương. Nội dung chính tập trung trong ba chương. Kết cấu đề tài nghiên cứu như sau: CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CTXH NHÓM TRỢ GIÚP NGƢỜI NGHÈO NHẬP CƢ TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI CHƢƠNG 2.
THỰC TRẠNG TRỢ GIÚP NGƢỜI NGHÈO NHẬP CƢ PHƢỜNG PHÚC XÁ- BA ĐÌNH- HÀ NỘI TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI. THỬ NGHIỆM MÔ HÌNH CTXH NHÓM HỖ TRỢ NGƢỜI NGHÈO NHẬP CƢ PHÚC XÁ- BA ĐÌNH- HÀ NỘI TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CTXH NHÓM TRỢ GIÚP NGƢỜI NGHÈO NHẬP CƢ TIẾP CẬN THÔNG TIN DỊCH VỤ XÃ HỘI 1. Một số khái niệm công cụ 1.
Khái niệm nghèo và người nghèo 1. Khái niệm nghèo và một số khái niệm có liên quan. * Nghèo: Khái niệm chung về nghèo đã được các quốc gia trong khu vực thống nhất tại Hội nghị chống nghèo do Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á – Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”. Ông Abapia Sen, chuyên gia của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) cho rằng: “Nghèo đói là sự thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng.” Ngân hàng thế giới (WB) lại đưa ra quan điểm: Nghèo là một khái niệm đa chiều vượt khỏi phạm vi túng thiếu về vật chất.
Nghèo không chỉ bao gồm cac chỉ số dựa trên thu nhập mà còn bao gồm các vấn đề liên quan đến năng lực như dinh dưỡng, sức khỏe, giáo dục, khả năng dễ bị tổn thương, quyền phát ngôn và quyền lực. Ở Việt Nam, theo định nghĩa trước năm 1995, của tác giả Phạm Hữu Khải: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần các nhu cầu tối thiểu cơ bản của cuộc sống và có mức sống ngang bằng với mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện”. Dù có nhiều đặc trưng nhưng các khái niệm, quan niệm về nghèo đói trên hầu như đều phản ánh 3 khía cạnh của người nghèo: Không được thụ hưởng những mức sống cơ bản dành cho con người; có mức sống thấp hơn 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mức sống trung bình của cộng đồng dân cư; thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia trong quá trình phát triển cộng đồng. Ngưỡng nghèo (chuẩn nghèo): là mức chi dùng tối thiểu, được xác định như tổng tiền chi cho giỏ hàng tiêu dùng trong thời hạn nhất định, bao gồm một lượng tối thiểu lương thực thực phẩm và đồ dùng cá nhân, cần thiết để bảo đảm cuộc sống và sức khỏe một người ở tuổi trưởng thành, và các khoản chi bắt buộc khác.
* Nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều: Nghèo đơn chiều: Là tình trạng nghèo được tính dựa trên chuẩn nghèo của Ngân hàng thế giới/ Tổng cục Thống kê, hoặc chuẩn nghèo thu nhập của chính phủ. Tức là dựa trên mức thu nhập của cá nhân/ hộ gia đình hoặc mức chi tiêu dể đánh giá mức độ nghèo đói. Nghèo đa chiều: Là tình trạng nghèo được xem xét dựa trên nhiều phương diện không chỉ về thu nhập, chi tiêu mà còn về nhiều phương diện khác như nguồn nhân lực, điều kiện sống, vốn xã hội và khả năng tiếp cận các dịch vụ công…cùng nhiều tiêu chí khác. Chỉ số nghèo khổ đa chiều phản ánh tất cả phạm vi tác động của nghèo đói.
Chỉ số này được tính toán bằng việc nhân phạm vi ảnh hưởng của đói nghèo (Incidence of Poverty) và cường độ trung bình tác động lên người nghèo (Average Intensity Across the Poor). Chỉ số nghèo khổ đa chiều đánh giá được một loạt các yếu tố quyết định hay những thiếu thốn, túng quẫn ở cấp độ gia đình: từ giáo dục đến những tác động về sức khỏe, đến tài sản và các dịch vụ. Như vậy nếu xem xét trên góc độ nghèo đa chiều thì người nghèo, cụ thể là người nghèo di cư tại đô thị sẽ được bao quát và nhìn nhận đúng đắn hơn rất nhiều so với nghèo đơn chiều. * Hộ nghèo: Là những hộ có thu nhập bình quân đầu người trong hộ dưới ngưỡng nghèo (hay còn gọi là chuẩn nghèo).
Ngưỡng nghèo có thể thay đổi theo thời gian, không gian và điều kiện kinh tế của đất nước. Ở nước ta, chuẩn nghèo đã được điều chỉnh theo các giai đoạn: 1993– 1995, 1996– 2000, 2001– 2005 và 2006– 2010, 2011– 2015. 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chuẩn nghèo của Chính phủ và chuẩn nghèo riêng TP. Hà Nội trong từng thời kỳ (thu nhập bình quân: đồng/ người/ tháng) Nguồn: Quyết định chuẩn nghèo của Chính phủ và UBND TP.
Hà Nội Ngày 01-01-2011, áp dụng chuẩn nghèo mới cho giai đoạn 2011-2015 theochỉ thị số 1752/ CT – TTg ngày 21-09-2010 của Thủ tướng Chính phủ. Theo đó, hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng/ người/ tháng. Hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng/ người/ tháng. Mức chuẩn nghèo quy định nêu trên là căn cứ để thực hiện các chính sách an sinh xã hội và các chính sách kinh tế, xã hội khác.
Trước đó, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố Hà Nội cũng đã ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011- 2015 trên địa bàn. Cụ thể, tại khu vực thành thị những hộ có mức thu nhập bình quân từ 750.000 đồng/ người/ tháng trở xuống là hộ nghèo, còn tại nông thôn là 550.000 đồng/ người/ tháng trở xuống. Hộ cận nghèo tại khu vực cận thành thị là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 751.000 đồng/ người/ tháng. Hộ cận nghèo tại nông thôn sẽ là những hộ có mức thu nhập bình quân từ 551.000 đồng/ người/ tháng đến 750.000 đồng/ người/ tháng.
Khái niệm người nghèo Theo tác giả cổ Trung Quốc cho rằng, người nghèo là: "Những người vẫn đang còn phải lo toan cho bữa ăn đó là người nghèo, cuộc sống đối với người nghèo chỉ là sinh tồn mà thôi". 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tại hội nghị thượng đỉnh Thế giới về Phát triển xã hội tổ chức tại Copenhaghen, Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra định nghĩa về người nghèo như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 Đô la (USD) mỗi ngày, số tiền được coi là đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại.” Từ các quan niệm và định nghĩa về nghèo đã đề cập ở trên và những quan điểm về người nghèo, ta có thể đưa ra những quan điểm về người nghèo như sau: Người nghèo là những người có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng xung quanh. Họ có thu nhập thấp, không ổn định và không có khả năng tiếp cận các dịch vụ cơ bản của xã hội. Trong khuôn khổ của luận văn Thạc sỹ, căn cứ vào chuẩn nghèo giai đoạn 2011- 2015 của Thủ tướng Chính phủ, ta có thể rút ra một khái niệm về người nghèo ở Việt Nam như sau: Người nghèo là những người có thu nhập thấp dưới mức chuẩn nghèo của Chính phủ.
Tức là người có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/ người/ tháng trở xuống đối với nông thôn và từ 500.000 đồng/ người/ tháng trở xuống ở thành thị (theo Chuẩn nghèo giai đoạn 2011-2015) 1. Khái niệm di cư, nhập cư. Khái niệm di cư. Di cư, hiểu theo nghĩa rộng là sự dịch chuyển bất kỳ của con người trong một không gian và thời gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn.
Hiểu theo nghĩa hẹp thì di cư là sự di chuyển dân cư từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, nhằm thiết lập nơi cư trú mới trong một không gian, thời gian nhất định. Theo tổ chức Liên Hiệp Quốc, di cư hay di dân là sự dịch chuyển từ khu vực hành chính này sang khu vực hành chính khác, trong một khoảng thời gian nhất định. Di cư được phân loại thành di cư trong nước và di cư quốc tế. Theo TS Kinh tế học Lao động Harvey B.King "di cư thường được hiểu là chuyển đến một chỗ ở khác cách chỗ ở cũ một khoảng đủ lớn buộc 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com người di cư phải thay đổi “hộ khẩu thường trú”, chuyển đến một thành phố khác, một tỉnh khác hay một nước khác".
Di cư đi và di cư đến: Mỗi hiện tượng di cư bao giờ cũng gồm hai mặt: Rời bỏ chỗ cũ và đến một nơi ở khác. Rời bỏ nơi cư trú gọi là di cư đi và đến một nơi cư trú khác gọi là di cư đến. Nhập cư là di cư đến nơi cư trú khác. Khái niệm nhập cư.
Nhập cư là hoạt động di chuyển chỗ ở đến một vùng hay quốc gia mới. Dân nhập cư là người dân di chuyển từ một vùng đến một vùng khác để định cư hoặc tạm trú. Nhập cư ngược với xuất cư. Tuy nhiên, cả nhập cư và xuất cư đều là di cư.
Mỗi cá nhân khi quyết định nhập cư đều tính đến lợi ích của bản thân và những người thân quanh mình. Lý do nhập cư gồm có những nguyên nhân ở cả nơi đi và nơi đến. Phân loại nhập cư: Phân loại theo mục đích nhập cư: nhập cư để học tập, nhập cư để làm việc và nhập cư với mục đích khác. Phân loại theo khu vực: nhập cư từ các địa phương trong nước và nhập cư giữa các nước khác nhau.
Khái niệm dịch vụ xã hội, thông tin dịch vụ xã hội 1. Dịch vụ xã hội “ Dịch vụ” thường được đề cập đến là một trong ba khu vực của nền kinh tế, cùng với Nông nghiệp và Công nghiệp. Trong cơ cấu của một nền kinh tế hiện đại, khu vực dịch vụ có vai trò ngày càng quan trọng. Chính vì vậy, có nhiều tài liệu nghiên cứu đã đề cập đến những khía cạnh khác nhau của dịch vụ.
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất nào được công nhận, điều này bắt nguồn từ tính phong phú, đa dạng và khó nắm bắt của các loại hình dịch vụ. Bên cạnh đó, các quốc gia khác nhau với trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác nhau cũng có những cách hiểu khác nhau về dịch vụ. Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.