mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được kết cấu thành 2 chương và 5 tiết. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1. BỐI CẢNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1911-1946 1. Việt Nam – Hoa Kỳ trong những năm 1911-1939 Những năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ảnh hưởng của Hoa Kỳ ở khu vực châu Á còn hạn hẹp, song việc tư bản Pháp xâm chiếm Việt Nam đã thu hút sự quan tâm không nhỏ của các nhà ngoại giao Hoa Kỳ xoay quanh vấn đề lợi ích – đặc biệt là lợi ích thương mại.
Chính vì vậy mà họ thường xuyên có những điều tra, báo cáo đều đặn gửi về Hoa Kỳ, tường trình về việc kiểm soát Nam Kỳ và Sài Gòn của người Pháp, cũng như việc mở cảng Sài Gòn cho ngoại thương của Pháp ở đây. Theo các nghiên cứu của Hoa Kỳ thì cảng Sài Gòn được xác định là cảng chính yếu của Nam Kỳ, tầm quan trọng của hải cảng này ngày càng tăng khi Pháp tiến hành đánh chiếm vùng này. Từ đó mà các nhà ngoại giao đã đề nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nên lưu tâm để đưa ra những chính sách nghiêm chỉnh cho vấn đề xây dựng Lãnh sự quán tại Sài Gòn, bởi đây chính là cánh cửa mở ra những quyền lợi thiết thực cho các tàu buôn Hoa Kỳ. Chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, cục diện chính trị thế giới có sự thay đổi, nhiều nước châu Âu thắng trận cũng như bại trận đều vấp phải những khó khăn chồng chất; các nước này trở thành con nợ của Hoa Kỳ.
Thế lực nhiều nước tư bản phương Tây ở châu Á – Thái Bình Dương do đó bị suy yếu đi trong khi Hoa Kỳ lại giàu lên nhanh chóng và trở thành cường quốc tư bản, chủ nợ của nhiều nước. Vị thế của Hoa Kỳ trên bàn cờ chính trị thế giới thay đổi, muốn vươn lên nắm ngôi vị bá quyền. Tại hội nghị Versailles tháng 1-1919, Tổng thống Wilson đưa ra “Chương trình 14 điểm” là minh chứng cho việc Hoa Kỳ muốn gây ảnh hưởng lớn trong việc xác lập trật tự thế giới mới, buộc các nước đế quốc phải đi tới những thỏa thuận có lợi cho Hoa Kỳ. Tại hội nghị Washington, cuối năm 1921 đầu năm 1922, Hoa Kỳ lên tiếng đòi 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phân chia lại thị trường với các cường quốc tư bản chủ nghĩa, đòi Hoa Kỳ phải có quyền lợi nhiều hơn ở các nước Viễn Đông và Tây Thái Bình Dương.
Trước thế mạnh của Hoa Kỳ, các nước tham gia hội nghị Washington buộc phải chấp nhận việc thực hiện chính sách mở cửa Trung Quốc cho Hoa Kỳ. Vị trí, ưu thế quân sự, chính trị của Hoa Kỳ ở Viễn Đông được củng cố vững chắc hơn trước. Cũng khởi nguồn từ đây, Đông Dương được Hoa Kỳ quan tâm hơn. Năm 1921, tại New York thành lập Ban Nghiên cứu thuộc địa Pháp – Mỹ do Ôhokahu đứng đầu nhằm nghiên cứu khả năng của Mỹ đầu tư vốn vào các thuộc địa Pháp.
Nhân cơ hội này, Bộ trưởng Thuộc địa và quyền Trưởng phái đoàn Pháp tại hội nghị Washington là Albert Saraut đã ngỏ ý mời các công ty tư bản Mỹ đầu tư vào Đông Dương [83]. Lúc này, giới tư sản Hoa Kỳ không để qua cơ hội xâm nhập vào Việt Nam, nên ngay trong năm 1921, một đoàn nghiên cứu tình hình đầu tư và khả năng thực hiện việc mở rộng đầu tư ở thuộc địa của Pháp. Nhưng do sự phản ứng gay gắt của giới kinh doanh Pháp có nhiều quyền lợi ở hải ngoại, tư bản Mỹ chỉ dừng lại ở quan hệ buôn bán mà chưa dám mạnh dạn bỏ vốn đầu tư ở Đông Dương. Như vậy, vào những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, quan hệ giữa Hoa Kỳ - Việt Nam chủ yếu thông qua vấn đề thương mại và quan hệ buôn bán giữa Mỹ - Việt Nam và Đông Dương thuộc Pháp nói chung.
Một sự kiện quan trọng nhất đánh dấu mối quan hệ buôn bán này là việc khánh thành đường hàng hải trực tiếp Sài Gòn - San Francisô vào cuối những năm 20 của thế kỷ XX. Tuy nhiên, các nhà tư bản không thể thoả mãn những gì đạt được ở Việt Nam mà tìm cách phát triển hơn. Trong một tài liệu đáng tin cậy “Tóm tắt về các quyền lợi kinh tế ở Viễn Đông”, chuẩn bị cho phái đoàn Mỹ tại Hội nghị Washington (1921-1922), đã có chương tổng quát về tình hình Đông Dương thuộc Pháp. Điều đó cho thấy sự quan tâm của Mỹ tới Đông Dương.
Tài liệu này cũng đề cập đến các sản phẩm chính của Đông Dương (gạo và than), cũng như các cơ sở khai khoáng và công nghiệp của xứ này. Tài liệu 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nếu rõ, tuy chưa được phát triển cao, nhưng các cơ sở khai mỏ, thương mại đều của người Pháp hoặc dưới quyền Pháp. Đây là điều thuận lợi cho Mỹ có thể tham giá kinh doanh, khai thác. Hơn nữa, hàng xuất khẩu của Mỹ tới Đông Dương đều phải đi qua ngả Hồng Kông, cho nên phải khai thác con đường hàng hải trực tiếp từ các cảng nước Mỹ vừa được thiết lập [173,154].
Hoạt động thương mại của Mỹ ở khu vực châu Á nói chung, Đông Dương nói riêng, trong những năm 20-30 của thế kỷ XX, dù vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của các nước đế quốc khác, đặc biệt là Pháp, nhưng vai trò của khu vực này trong nền kinh tế Mỹ vẫn không ngừng tăng lên. Qua một vai con số thống kê về hoạt động buôn bán của Mỹ ở Đông Dương thời Pháp thuộc, chúng ta sẽ thấy rõ điều đó. Nếu như trong những năm 1925-1929, hàng nhập khẩu của Đông Dương chỉ chiếm 2,6% tổng số hàng nhập vào nước Mỹ thì đến những năm 1935-1939 đã tăng lên 6,6% (đến năm 1937, 51,5% toàn bộ số nguyên liệu mà Mỹ nhập cảng là do châu Á cung cấp). Trong những nằm 1935-1939, hàng của Mỹ nhập vào Đông Dương gồm nhiều loại khác nhau, trong đó các loại nguyên liệu, như sản phẩm dầu lửa, nhựa, kim loại, chiếm một tỷ lệ lớn, song những thành phẩm công nghiệp như máy móc, xe hơi, chỉ chiếm 3,8% tổng giá trị hàng nhập vào Đông Dương.
Rõ ràng, cán cân buôn bán giữa Mỹ và các nước châu Á, trong đó co Đông Dương thuộc Pháp không có lợi cho Mỹ. Vì vậy, Chính phủ Hoa Kỳ phải tăng cường mối quan hệ có lợi cho mình vào các thập niên sau của thế kỷ XX, đối với Đông Dương, khi mà tình hình có nhiều biến đổi mới do sự xuất hiện và phát triển chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản. Với mưu đồ thống trị châu Á nhằm chống lại các nước đế quốc Anh – Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương. Nhật đã triển khai một kế hoạch bành trướng ở khu vực châu Á.
Việc làm này đã đụng chạm đến quyền lợi của Anh, Pháp, Hoa Kỳ ở khu vực này, vì thế Nhật trở thành địch thủ của các đế quốc khác đặc biệt là Mỹ. Mối quan hệ Hoa Kỳ - Nhật ở Đông Dương không tránh khỏi 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan hệ của Hoa Kỳ với chính quyền thuộc địa ở xứ này. Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ không chỉ giới hạn ở quan hệ giữa các chính quyền mà còn phải tính tới một quan hệ khác - quan hệ của nhân dân Việt Nam và Hoa Kỳ. Trong mối quan hệ này nổi lên thái độ của Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đối với Hoa Kỳ.
Sau khi cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, các nước đế quốc thắng trận phân chia lại thế giới, thiết lập một trật tự thế giới mới theo hệ thống Versailles - Washington. Lúc này tại Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng, thực dân Pháp tiến hành cuộc khai thác thác thuộc địa lần thứ hai với mục đích bù đắp thiệt hại do chiến tranh gây ra và khôi phục địa vị kinh tế của nước Pháp trong thế giới tư bản chủ nghĩa. Cùng với việc tiến hành cuộc khai thác thuộc địa, Pháp tiến hành đồng loạt các chính sách cai trị chính trị, văn hóa, giáo dục với Đông Dương đặc biệt là Việt Nam. Dưới tác động của cuộc khai thác và các chính sách cai trị của thực dân Pháp đã dẫn đến những chuyển biến mới về kinh tế và giai cấp xã hội ở Việt Nam.
Về kinh tế, nền kinh tế tư bản thực dân tiếp tục được mở rộng và trùm lên nền kinh tế phong kiến Việt Nam. Cơ cấu kinh tế Việt Nam có sự chuyển biến, song chỉ mang tính chất cục bộ, chủ yếu vẫn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, ngày càng bị gắn chặt vào kinh tế Pháp. Về xã hội, xã hội Việt Nam dẫn đến sự chuyển biến sâu sắc, đặc biệt về mặt giai cấp xã hội các giai cấp cũ tiếp tục bị phân hóa, các giai cấp mới được hình thành. Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp và tay sai phản động.
Sự phân hóa giai cấp, mâu thuẫn xã hội và tác động của trào lưu cách mạng thế giới, nhất là Cách mạng tháng Mười Nga đã thúc đẩy phong trào dân tộc, dân chủ ở Việt Nam ngày càng phát triển. Sự biến đổi về kinh tế, nhất là sự biến đổi cơ cấu kinh tế quyết định sự biến đổi về xã hội, nhất là sự phân hoá giai cấp ngày càng sâu sắc, làm cho xã 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội Việt Nam có đầy đủ những giai cấp của một xã hội hiện đại. Những giai cấp mới là cơ sở vật chất để tiếp thu những tư tưởng mới vào Việt Nam (kể cả tư tưởng tư sản và tư tưởng vô sản), làm cho phong trào dân tộc Việt Nam mang những màu sắc mới mà các phong trào yêu nước trước kia không thể nào có được. Những giai cấp mới cùng những hệ tư tưởng mới làm xuất hiện hai khuynh hướng tư sản và vô sản.
Cả hai khuynh hướng đều cố gắng vươn lên giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc do lịch sử đặt ra. Đó chính là cuộc đấu tranh giành quyền lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng Việt Nam. Chịu tác động trực tiếp của các chính sách cai trị hà khắc của thực dân Pháp cùng với những biến chuyển về mặt kinh tế, xã hội đã thúc đẩy các phong trào đấu tranh ở Việt Nam diễn ra sôi nổi đặc biệt là phong trào dân tộc dân chủ. Phong trào dân tộc dân chủ 1919-1930 diễn ra sôi nổi theo hai khuynh hướng là dân chủ tư sản và khuynh hướng vô sản.