đặt vấn đề “liệu văn học có tái trình hiện chính xác môi trờng thiên nhiên không”, hay “thực ra ngôn ngữ mô tả hiện thực thế nào” [40, pg. Bất cứ sự tái trình hiện nào về thế gidi vat chat và sự tơng tác với chúng ta, dò bằng ngôn từ hay hình ảnh, cũng là một “sản phâm” tùy thuộc vào giá trị. Nói cách khác, vì các tái trình hiện không bao giờ là cánh cửa trắng xóa nhìn ra thế giới, nên khi nghiên cứu chúng, cần nghiên cứu cái mà ngời ta muốn tái trình hiện bằng phơng pháp, giá trị và quy định của họ. Với nhiều ngời xem phim, điện ảnh là một phơng tiện vô t tới kỳ lạ, khiến họ lầm tong rang minh tiép cận hiện thực một cách tức thời, trực tiếp và khách quan.
Phần nào đó, đằng sau hiện tợng này là cái mà Robert Romanyshyn gọi là “thói quen văn hóa của tâm thức”, gắn liền với sự ra đời của góc nhìn tuyến tính, theo đó hình ảnh có quan hệ trực diện với hiện thực, một quan hệ có đợc từ phơng tiện máy móc (giờ là kỹ thuật số), để thuần túy “thu lại” các sự kiện và đóng băng chúng trong thời gian, mà không định hình chúng [42, pg. Do đó điều ta biết cũng phần nào là chức năng của cái mà qua đó ta biết — dò đó là giác quan, những công cụ đo lờng và ghi chép, hay giá trị và niềm tin của ta. Điện ảnh có khả năng phóng chiếu “một hiệu ứng của hiện thực” một cách tài tình [40, pg. Dò bằng ngôn ngữ hay hình ảnh, những tái trình hiện ngôn ngữ “xây dựng một mô hình hiện thực để làm nền cho các dién ngôn, và định hình thái độ văn hóa của chúng ta với môi trờng thiên nhiên.
Chắng 17 hạn, khủng hoảng sinh thái bắt nguồn từ một mô hình đợc gọi là hệ quy chiếu nhị nguyên, hay mô hình hiện thực, trong khoa học xã hội” 40, pg. Do đó, những tái trình hiện không định hình thiên nhiên một cách trực tiếp, mà định hình quan niệm của ta về thiên nhiên, những quan niệm này lại khởi tạo và đóng khung hành động của chúng ta với thiên nhiên; hành động của ta lại định hình thiên nhiên khi ta bảo tồn hay phá hủy các hệ sinh thái. Nghiên cứu của Derek Bousé về sự tái trình hiện đời sống hoang dã trong điện ảnh đã làm rõ hơn những t tởng này, qua việc chỉ ra xung đột lợi ích ngầm giữa đề tài- thiên nhiên-và những thủ thuật mà điện ảnh dùng để tái trình hiện thiên nhiên, qua việc đóng khung nó “cho vừa với phơng tiện” [24, pg. Theo Bousé, việc dòng những thiết bị hình ảnh nh góc máy quay, cận cảnh, quay chậm “có thể làm ta rời xa thiên nhiên hơn là gắn bó, và.thực chất, sự tiếp xúc liên tục với thiên nhiên và đời sống hoang dã qua lăng kính của điện ảnh có thể làm giảm sự nhạy cảm với thiên nhiên” [24, pg.
Ngoài ra, những kỳ vọng của khán giả về thiên nhiên ngày càng phụ thuộc vào sự tiêu thụ hình ảnh về thiên nhiên của chúng ta, chứ không phải sự tiếp xúc cá nhân với các bối cảnh thiên nhiên và hiểm họa môi trờng; do vậy, nhiều khả năng khán giả sẽ tin vào bề nổi của những hình ảnh này, và chỉ có thể so sánh chúng với những hình ảnh khác thôi. Bousé đã hợp lý khi đặt câu hỏi, liệu khán giả có thực sự nhận ra rằng, phơng tiện sáng tạo không phải cánh cửa trắng xóa đề nhìn ra thế giới, vì phơng tiện này “rất gần với hiện thực” nhng “không thể truyền tải hiện thực một cách toàn vẹn” [24, pg. Ông nói, mức độ thực của một tái trình hiện thờng đợc đánh giá trên cơ sở nội dung chứ không phải kỹ thuật, cứ nh ta có thể tách nội dung ra khỏi cách nó đợc truyền đi. Do đó ông kết luận rằng, sự mô tả động vật 18 hoang đã trong các bộ phim về thiên nhiên vừa là tái trình hiện vừa là mô phỏng [24.
Chủ nghĩa phê bình sinh thái-văn học nghiên cứu tác động của việc sử dụng ngôn ngữ và biểu tợng với quan niệm và trải nghiệm thiên nhiên của các tác giả. Với những tên gọi khác nh “chủ nghĩa phê bình điện ảnh xanh” hay “chủ nghĩa phê bình điện ảnh-sinh thái”, chủ nghĩa này phải bóc tách đợc thiên nhiên và các đặc điểm thiên nhiên từ các tái trình hiện thị giác, cách mà chúng đợc đóng khung bởi ống kính máy quay và định hình bởi quy trình biên tập. Tuy máy quay có thể tăng cờng ảo giác về tính khách quan và sự hiện thực — những tái trình hiện khách quan là sản phâm của một hệ quy chiếu hay góc nhìn thống trị nào đó — không có gì phụ thuộc nhiều vào hệ t tởng nh cái gọi là phong cách tàng hinh (invisible style) của phim kinh điền, cái che giấu bản chất ngụy tạo của hình ảnh. Nghiên cứu của Bousé là quan trọng với những nhà phê bình sinh thái nào muốn khảo sát sự đóng khung quan niệm và thái độ của chúng ta với thiên nhiên (của hình ảnh), cũng nh bài luận ®eel Nature: America s Romance with Wildlife on Film cia Gregg Mitman.
Tuy cả hai đều không coi mình là nhà phê bình sinh thái, những phát hiện của họ giúp ta hiểu về những câu chuyện đẳng sau sự tái trình hiện, cả về máy quay và ngành sản xuất phim, góp phần xây dựng nền tảng của phê bình sinh thái điện ảnh. Trong các bộ phim, thiên nhiên đợc xã hội dựng nên bằng một số yếu tố: năng lực của công nghệ điện ảnh, các mục tiêu của nhà làm phim, nền tảng kinh tế của ngành giải trí, những khái niệm phô biến về thiên nhiên, và thị hiếu đợc gán cho ngời xem. Thông qua nhận xét của Aldo Leopold rằng “đời sống hoang đã là chất liệu thô dé con ngời tạo tác sản phẩm gọi là văn minh”, Mitman cho thấy, điều ngợc lại đã trở thành quy phạm: 19 “Mong ớc về cái tinh khôi, hoài niệm về quá khứ trong trắng, chúng ta bị cuốn vào diễn cảnh về đời sống hoang dã mà con ngời cha can thiệp và áp đặt ý chí vào. Tuy nhiên, ta không thể nhìn thế giới thiên nhiên mà không có sự can thiệp.
Máy quay phải lựa chọn chủ đề, áp đặt góc nhìn của nó. Lịch sử của phim thiên nhiên đi ngợc lại tuyên bố của Leopold. Các giá trị văn hóa, công nghệ và chính thiên nhiên đã cung cấp chất liệu thô đề tạo tác đời sống hoang đã” [Mitman, pg. Nghiên cứu này đợc dựa trên nhiều công trình khác, với những sự quan tâm khác nhau về cái David Ingram gọi là “sự tơng tác giữa các hệ t tởng môi trờng trong điện ảnh Hollywood” [32, pg.
Trong Green Screen: Environmen- talism and Hollywood Cinema, Ingram đã phân tích đại thể về các bộ phim “duy- môi trờng”, tức là những phim tận dụng đáng kể môi trờng trong mạch truyện, nhng môi trờng chỉ là phông nền cho hoàn cảnh con ngời. Với tính chất nghiên cứu mở màn, công trình của Ingram “khảo sát một lĩnh vực rất rộng đề gợi mở hong di cho cdc nghiên cứu sau” [32, pg. Với điểm nhấn là các tự sự h cấu Hollywood, Ingram làm rõ việc Hollywood dòng những thủ thuật truyền thống của kịch melo đề tái trình hiện các vấn đề môi trờng. Trong đó có chức năng biểu tợng của đời sống hoang dã và việc biến nó trở thành một không gian địa đàng hoàn mỹ; thẩm mỹ quan đẳng sau kỹ thuật quay phim; sự nhân hình hóa động vật hoang dã và “phân tang” một số loài nh cá heo, chó sói và gấu; hiệu ứng của việc gán giới tính cho thiên nhiên vô-nhân; và sự tái trình hiện các công nghệ tiên tiến, chắng hạn nh xe hơi và năng lợng hạt nhân, còng với những hệ lụy về sinh thái.
Ingram coi những bộ phim ông nghiên cứu là “trung gian của những vấn đề xã hội.” Sách này tiếp tục nghiên cứu một số chủ 20 đề mà Ingram gợi mở trong liên hệ với những thể loại khác, nh hoạt hình, phim tài liệu, phim thể nghiệm, phim nghệ thuật và phim Bản địa. Định nghĩa của Ingram về điện ảnh duy-môi trờng là thiết yếu với nghiên cứu về một thê loại đang nổi, đó là điện ảnh sinh thái. Thuật ngữ điện ảnh sinh thái thờng đợc dùng đề chỉ những bộ phim quan tâm đặc biệt tới các quan ngại môi trờng, qua việc khám phá những vấn đề công lý môi trờng cụ thể, hay nói rộng hơn, qua việc biến “thiên nhiên”, từ cảnh vật cho tới đời sống hoang dã, thành tâm điểm. Là một phạm trù truyền thông, điện ảnh sinh thái can hệ tới nhiều thể loại và phơng thức sản xuất, bao tròm phim truyện ngắn và dài, phim tài liệu, còng các bộ phim/video thê nghiệm nhằm tích cực tuyên truyền tới ngời xem cũng nh kêu gọi họ tham gia vào những vấn dé sinh thái quan trọng.
Do đó, những phim này muốn đóng vai trò chủ động trong nâng cao nhận thức, bảo tồn môi trờng và hành động chính trị. Nói một cách rộng rãi và về mặt triết học, điện ảnh sinh thái còn bao gồm những bộ phim nào thôi thúc ta suy ngẫm về bản chất của sự sống trên trái đất: tức là, trở thành một thành viên của hệ sinh thái hay “sinh quyền” hành tỉnh, và quan trọng nhất, nhận thức đợc gia tri của cộng đồng này một cách hệ thống và phi-thứ bậc. Điện ảnh sinh thái đồng thời hớng đến việc khám phá những diễn ngôn sinh thái trong các bộ phim — kiểu diễn ngôn “ngoại vi” thờng bị giấu kín hoặc hay bị bỏ qua trong các tác phâm phê bình — do đặc trng lịch sử, văn hóa, chính trị của nền phê bình đó. Sinh thai hoc nghệ thuật và mỹ học sinh thái Trớc tình trạng môi trờng toàn cầu đang ngày càng xấu đi, giữa thập niên 90 của thế kỷ XX, phê bình sinh thái đã ra đời với sứ mệnh cao cả là phân tích chỉ ra căn nguyên văn hóa t tởng dẫn đến nguy cơ sinh thái, nghiên cứu 21 quan hệ giữa con ngời và môi trờng tự nhiên.