Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về việc sử dụng hiệu quả vốn tín dụng để phát triển kinh tế cho các hộ nông dân. Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng sử dụng hiệu quả vốn tín dụng cho hộ nông dân để phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Chương 4: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tín dụng cho hộ nông dân để phát triển kinh tế nông nghiệp trên địa bàn thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH VAY VỐN NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VAY ĐỂ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CHO CÁC HỘ NÔNG DÂN 1. Những lý luận về việc sử dụng hiệu quả vốn tín dụng để phát triển kinh tế cho hộ nông dân ở nƣớc ta 1. Khái niệm về hộ nông dân và kinh tế hộ nông dân Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, thu nhập chính từ các hoạt động trong nông hộ và ngoài nông hộ. Thu từ sản xuất trong nông hộ bao gồm các ngành sản xuất nông nghiệp và phi nông nghiệp, thu từ ngoài nông hộ bao gồm: tiền đi làm thuê, trợ cấp, tiền gửi về, tiền lương hưu, quà biếu…[3].
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân. Khi trình độ phát triển đạt mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước. Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay.
Kinh tế hộ nông dân là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở của xã hội, trong đó các nguồn lực về đất đai, lao động, tiền vốn và tư liệu sản xuất được coi là của chung để tiến hành sản xuất. Có chung ngân quỹ, ngủ chung một nhà, ăn chung, mọi quyết định trong sản xuất kinh doanh và đời sống là tuỳ thuộc vào chủ hộ, được Nhà nước thừa nhận, hỗ trợ và tạo điều kiện phát triển. Có ý kiến khác lại cho rằng, kinh tế nông hộ bao gồm toàn bộ các khâu của quá trình tái sản xuất mở rộng: sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng. Kinh Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 6 tế hộ thể hiện được các loại hộ hoạt động kinh tế trong nông thôn như hộ nông nghiệp, hộ nông - lâm - ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương nghiệp, ngư nghiệp [3].
Theo quan niệm của Frank Ellis (1988): "Kinh tế hộ nông dân là kinh tế của những hộ gia đình có quyền sinh sống trên các mảnh đất đai, sử dụng chủ yếu sức lao động gia đình. Sản xuất của họ thường nằm trong hệ thống sản xuất lớn hơn và tham gia ở mức độ không hoàn hảo vào hoạt động của thị trường". Nhìn chung kinh tế hộ nông dân có những đặc điểm cơ bản sau: - Kinh tế hộ nông dân là hình thức kinh tế có quy mô gia đình, các thành viên có mối quan hệ gắn bó với nhau về kinh tế cũng như huyết thống. Về mức độ phát triển có thể trải qua các hình thức: kinh tế hộ sinh tồn, kinh tế hộ tự cấp tự túc và kinh tế hộ sản xuất hàng hoá.
- Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân. Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất. Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ. Ở nước ta, từ năm 1988 khi Nhà nước giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho các hộ nông dân, sản xuất nông nghiệp - mà đặc biệt là sản xuất lúa, đã có mức tăng chưa từng có về năng suất và số lượng.
Người nông dân phấn khởi trong sản xuất. Một vấn đề rất quan trọng ở đây là việc xác nhận họ được quyền kiếm sống gắn bó với mảnh đất của họ. - Kinh tế hộ chủ yếu sử dụng lao động gia đình, việc thuê mướn lao động mang tính chất thời vụ không thường xuyên hoặc thuê mướn để đáp ứng nhu cầu khác của gia đình. Một thực tế là hiệu quả sử dụng lao động trong nông nghiệp rất cao, khác với các ngành kinh tế khác.
- Sản xuất của hộ nông dân là tập hợp các mục đích kinh tế của các thành viên trong gia đình, thường nằm trong một hệ thống sản xuất lớn hơn của cộng đồng. Kinh tế hộ nông dân là tế bào kinh tế của sản xuất nông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 7 nghiệp, tất yếu có quan hệ với thị trường song mức độ quan hệ còn thấp, chưa gắn chặt với thị trường. Nếu tách họ ra khỏi thị trường họ vẫn tồn tại. Những vấn đề cơ bản về vốn, vốn tín dụng 1.
Khái niệm vốn, tín dụng a. Khái niệm về vốn Vốn được hiểu theo nghĩa hẹp là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Vốn được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ những tài sản tồn tại dưới tất cả các hình thái mà một xã hội, một quốc gia có được ở một thời điểm hay một thời kỳ nhất định có thể chi phối và sử dụng cho công việc xây dựng, phát triển đất nước, hoạt động của doanh nghiệp và nhu cầu của hộ gia đình. Trong nền kinh tế thị trường vốn được hiểu một cách đầy đủ, được nhận thức một cách hoàn chỉnh hơn.
Nó được thể hiện ở chỗ: Vốn là một phạm trù rộng lớn bao gồm tiền tệ, vật tư, tài sản, nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và nhiều vốn hữu hình hay vốn vô hình khác như: Phát minh, sáng chế bản quyền kinh doanh, trình độ công nhân… Như vậy vốn là nhân tố đầu vào, đồng thời là kết quả đầu ra trong quá trình hoạt động của quá trình hoạt động kinh tế [5, 6, 17]. Trong thực tiễn, một người nào đó ở giai đoạn này thì thừa vốn, giai đoạn khác lại thiếu vốn, ở cùng một giai đoạn người này thừa vốn, người khác lại thiếu vốn, khi đó sẽ có sự trao đổi để thỏa mãn nhu cầu của các bên, quá trình này tạo nên thị trường, nếu trên thị trường này có hàng hóa là tiền tệ và chứng khoán thì nó tạo nên thị trường vốn. Căn cứ vào phương thức vận động của vốn từ người bán sang người mua, thị trường vốn được chia thành thị trường vốn trực tiếp và thị trường vốn gián tiếp. Ở thị trường vốn gián tiếp, người có vốn và người cần vốn không có quan hệ trực tiếp với nhau.
Thị trường vốn trực tiếp, việc chuyển vốn từ người có vốn tới người cần vốn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 8 không phải thông qua bất kỳ một tổ chức trung gian nào. Nếu căn cứ thời gian luân chuyển có thể chia thị trường vốn thành thị trường vốn ngắn hạn và thị trường vốn dài hạn. Trên thị trường này diễn ra các hoạt động, người có vốn cho vay và người cần vốn đi vay. Vay là nhận tiền hay hiện vật của người khác để sử dụng với điều kiện sẽ trả lại bằng cái cùng loại ít nhất có số lượng hoặc giá trị tương đương.Khái niệm về tín dụng Tín dụng xuất phát từ chữ La tinh Creditium có nghĩa là tin tưởng, tín nhiệm.
Tiếng Anh gọi là Credit. Theo ngôn ngữ Việt Nam là sự vay mượn. Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện tiền tệ. Khi một chủ thể kinh tế cần một lượng hàng hoá cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi chưa có tiền hoặc số tiền hiện có chưa đủ họ có thể sử dụng hình thức vay mượn để đáp ứng nhu cầu.
Tín dụng là mối quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu [5, 11]. Tín dụng là “phạm trù kinh tế thể hiện mối quan hệ giữa người cho vay và người đi vay. Trong quan hệ này người cho vay có nhiệm vụ chuyển giao quyền sử dụng tiền hoặc hàng hoá cho người đi vay trong thời gian nhất định, khi tới thời hạn trả nợ người đi vay có nghĩa vụ hoàn trả số tiền hoặc hàng hoá cho người cho vay kèm theo một khoản lãi”. Theo Đại từ điển Kinh tế thị trường: “Tín dụng là những hành động cho vay, bán chịu hàng hoá và vốn giữa những người sở hữu khác nhau.
Tín dụng không phải là hoạt động vay tiền đơn giản mà là hoạt động vay tiền có điều kiện, tức là phải bồi hoàn thanh toán lợi tức. Tín dụng là hình thức đặc thù Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.vn/ 9 vận động giá trị khác với lưu thông hàng hoá đơn thuần: vận động giá trị nên dẫn tới phương thức mượn tài khoản, bồi hoàn và giá trị thanh toán”. Vai trò của vốn đối với phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn Các nhà kinh tế học từ cổ đại đến hiện đại đều khẳng định: Vốn là nhân tố cơ bản của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Có thể nói, vai trò của nhân tố vốn đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn ở nước ta hiện nay là rất lớn, thể hiện ở trên các góc độ sau [1, 3, 9]: - Thứ nhất, vốn làm thay đổi bộ mặt kết cấu hạ tầng theo yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung, phát triển nông nghiệp, nông thôn nói riêng, thúc đẩy CNH- HĐH.
- Thứ hai, vốn đầu tư vào khoa học - công nghệ tạo ra động lực để phát triển một nền nông nghiệp chất lượng cao và bền vững, gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. - Thứ ba, vốn tác động vào hệ thống công nghiệp phục vụ cho sản xuất nông nghiệp làm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh doanh nông nghiệp. - Thứ tư, thông qua huy động, đầu tư và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, hình thành và phát triển vùng chuyên canh, vùng kinh tế trọng điểm về nông nghiệp.