CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. SUY DINH DƯỠNG THẤP CÒI Ở TRẺ EM DƯỚI 5 TUỔI 1. Khái niệm về suy dinh dưỡng thấp còi Thấp còi là biểu hiện của sự thiếu dinh dưỡng kéo dài đã lâu dẫn đến chiều cao thấp so với tuổi ở trẻ em. SDD thấp còi được coi là chỉ tiêu phản ánh sự chậm tăng trưởng do điều kiện dinh dưỡng và sức khỏe không hợp lý.
Suy dinh dưỡng (SDD) thể thấp còi ở trẻ em dưới 5 tuổi được thể hiện ở tình trạng chiều cao của trẻ thấp hơn so với chiều cao nên có ở lứa tuổi đó, thể hiện ở chỉ số "chiều cao theo tuổi" (Height/Age) thấp dưới -2 Z-Score (hoặc dưới -2 SD so với chuẩn tăng trưởng, WHO 2006) [15], [16]. Thấp còi làm chậm tăng trưởng xương và tầm vóc, được xem là kết quả cuối cùng giảm tốc độ tăng trưởng tuyến tính. Tỷ lệ thấp còi cao nhất thường xảy ra ở trẻ từ 2 đến 3 tuổi [17]. Tỷ lệ hiện mắc SDD thể thấp còi phổ biến hơn tỷ lệ hiện mắc SDD thiếu cân ở mọi nơi trên thế giới vì có những trẻ bị thấp còi trong giai đoạn sớm của cuộc đời có thể đạt được cân nặng bình thường sau đó nhưng vẫn có chiều cao thấp [18].
Việc mắc các bệnh nhiễm khuẩn và nuôi dưỡng trẻ kém hoặc phối hợp cả hai là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến SDD thấp còi và hậu quả là sự kém phát triển cả về thể lực và trí tuệ của trẻ em [19], [20]. Nguyên nhân suy dinh dưỡng thấp còi Năm 1997, UNICEF đã xây dựng và phát triển mô hình nguyên nhân SDD. Một số tổ chức khác cũng đã có những mô hình nguyên nhân – hậu quả của SDD riêng hoặc phát triển mô hình mới dựa trên mô hình của UNICEF. Nhưng mô hình của UNICEF hiện tại vẫn đang được sử dụng rộng rãi nhất.
Mô hình nguyên nhân – hậu quả của SDD trẻ em dưới 5 tuổi [21] (Nguồn: UNICEF – 1997) 1. Nguyên nhân trực tiếp Hai yếu tố phải kể đến là khẩu phần ăn thiếu và mắc các bệnh nhiễm khuẩn. - Khẩu phần ăn: Khẩu phần ăn thiếu về số lượng hoặc kém về chất lượng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến SDD: Trẻ không được bú 7 sữa mẹ đầy đủ, cho ăn bổ sung quá sớm hoặc cho trẻ ăn thức ăn đặc quá muộn, số lượng thức ăn không đủ, năng lượng và protein trong khẩu phần ăn thấp. Nhìn chung, khẩu phẩn ăn ở cả người lớn và trẻ em nước ta còn thấp so với các nước trong khu vực.
Đối với trẻ em trên 2 tuổi thì hầu hết các gia đình đều cho ăn cơm cùng bữa cơm với gia đình, nhưng số bữa ăn hàng ngày ít (trung bình 3 bữa ăn/ngày). Tần suất sử dụng các thực phẩm như thịt, cá, trứng, sữa trong bữa ăn của trẻ thấp do điều kiện kinh tế gia đình hoặc do hiểu biết của bà mẹ về chăm sóc dinh dưỡng cho trẻ còn hạn chế. - Bệnh nhiễm khuẩn: SDD và bệnh nhiễm khuẩn ở trẻ em ảnh hưởng tới sự phát triển chung của trẻ trong thời gian dài. Cùng với tiêu chảy, nhiễm khuẩn hô hấp cấp, SDD là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, qua phân tích 11,6 triệu trường hợp tử vong trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển cho thấy có đến 54% (6,3 triệu) có liên quan đến SDD; nếu gộp cả sởi, tiêu chảy, viêm đường hô hấp cấp và sốt rét thì tỷ lệ này lên đến 74%; tương đương gần 8,6 triệu trẻ [21]. Nhiễm ký sinh trùng đường ruột cũng là nguyên nhân quan trọng gây ra tình trạng SDD, thiếu máu ở trẻ em. Một nghiên cứu về nhiễm giun cho thấy tỷ lệ nhiễm giun ở trẻ em lên đến 60%, chủ yếu là giun đũa và giun móc. Nhiễm ký sinh trùng đường ruột là một vấn đề sức khỏe cộng đồng ở các nước đang phát triển do điều kiện vệ sinh môi trường không đảm bảo.
Nhiễm giun làm cho trẻ chán ăn, giảm hấp thu các chất dinh dưỡng, thiếu máu, từ đó ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ. Nhiễm ký sinh trùng đường ruột với mức độ cao và trong một thời gian dài có thể gây SDD như nhẹ cân, thấp còi và những trường hợp nặng có thể tử vong [21], [22]. 8 Ăn vào không đủ - Giảm ngon miệng - Giảm cân - Mất các chất dinh dưỡng - Tăng trưởng chậm - Giảm hấp thu - Giảm miễn dịch - Rối loạn chuyển hoá - Tổn thương niêm mạc Bệnh tật: - Tăng tỷ lệ mắc mới - Mức độ trầm trọng hơn - Thời gian mắc kéo dài hơn Hình 1. Vòng xoắn bệnh lý: Bệnh tật – SDD - Nhiễm khuẩn [23] 1.
Nguyên nhân sâu xa (tiềm tàng) Nguyên nhân sâu xa đó là sự yếu kém trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ em; kiến thức của người chăm sóc trẻ, yếu tố chăm sóc của gia đình, vấn đề nước sạch, vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bảo vệ sinh, tình trạng đói nghèo, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung bao gồm cả mất bình đẳng về kinh tế. Ba yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến suy SDD là an ninh thực phẩm, thiếu sự chăm sóc và bệnh tật, và các yếu tố này chịu ảnh hưởng lớn đến đói nghèo. Tỷ lệ SDD ở trẻ em có mối quan hệ mật thiết với trình độ học vấn và tình trạng SDD mạn tính của người mẹ; những đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi những bà mẹ có trình độ học vấn cao hơn thì được chăm sóc tốt hơn [24]. Điều tra mức sống gia đình năm 2004 của Chính phủ cho thấy tỷ lệ đói nghèo ở miền núi chiếm 27,5% và nghèo lương thực là 8,9%; trong khi đó ở khu vực thành thị tương ứng là 10,8% và 3,5% [25].
9 Nghiên cứu của Lê Thành Đạt tại huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái năm 2011 cho thấy SDD thể nhẹ cân ở trẻ gia đình có kinh tế thuộc loại nghèo (21,2%) cao gấp 2,06 lần so với trẻ gia đình không nghèo (11,5%) [26]. Nghiên cứu của Hồ Ngọc Quý tại tỉnh Lâm Đồng năm 2005 cho thấy tỷ lệ trẻ SDD ở hộ gia đình có thu nhập đủ ăn là 23,4% trong khi đó hộ nghèo và đói có tỷ lệ trẻ SDD cao hơn hẳn (lần lượt là 41,9% và 43,8%) [24]. Nghèo đói chủ yếu rơi vào những hộ gia đình có trình độ học vấn thấp, khó có cơ hội tiếp xúc với thông tin và dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Mặt khác, phần lớn các hộ gia đình nghèo, nhất là vùng nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số lại thường sinh nhiều con.
Vì vậy gia đình đông con thì chế độ dinh dưỡng, khẩu phần ăn của trẻ không đảm bảo. Chính điều này tạo nên vòng luẩn quẩn của đói nghèo khó giải quyết [3], [15]. Nguyên nhân gốc rễ (cơ bản) Nguyên nhân gốc rễ dẫn đến SDD đó là kiến trúc thượng tầng, chế độ xã hội, chính sách, tiềm năng của mỗi quốc gia. Cấu trúc chính trị - xã hội - kinh tế, môi trường sống, các điều kiện văn hóa - xã hội là những yếu tố ảnh hưởng đến SDD ở tầm vĩ mô.
Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay của các nước phát triển, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng tác động đến xã hội ngày càng sâu sắc; đặc biệt là khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thời gian này làm cho việc đảm bảo an ninh lương thực ở các nước đang phát triển ngày càng trở nên khó khăn [19],[21]. Tình hình an ninh lương thực hộ gia đình Tại Hội nghị thượng đỉnh lương thực thế giới năm 1996, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc (FAO) đã đưa ra định nghĩa “An ninh thực phẩm là khi tất cả mọi người tại mọi thời điểm có thể tiếp cận được về mặt vật lý, kinh tế và xã hội đối với nguồn lương thực, thực phẩm đủ dinh dưỡng, an toàn, đầy đủ để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng và sở thích ăn uống của họ cho một cuộc sống khỏe mạnh và năng động” [27]. 10 Hiện nay, tình trạng đói lương thực, thiếu các thực phẩm cần thiết hay được gọi là là tình trạng mất an ninh lương thực (ANLT) đã và đang còn là thách thức lớn đối với toàn nhân loại. Mặc dù nền kinh tế thế giới không ngừng phát triển và đạt được những thành tựu quan trọng, lương thực thực phẩm đã có thể phần nào thỏa mãn nhu cầu ăn uống cho mọi người, nhưng vẫn còn bộ phận lớn dân cư ở các nước đang phát triển, như châu Phi, châu Á và châu Mỹ La tinh vẫn không đủ thực phẩm để đảm bảo nhu cầu năng lượng và protein, dẫn đến suy dinh dưỡng protein-năng lượng (PEM) và thiếu vi chất dinh dưỡng cần thiết cho sự tăng trưởng và phát triển.
Vì vậy, mục tiêu đảm bảo ANLT được đặc biệt quan tâm ở cả cấp địa phương, quốc gia và quốc tế. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ 20, ANLT đã được xem xét ở mức hộ gia đình và cá thể, phân tích khả năng tiếp cận với đầy đủ thực phẩm đa dạng và an toàn cho mọi thành viên gia đình ở mọi nơi mọi lúc để đảm bảo dinh dưỡng và sức khỏe tốt. Hiện nay, ở tầm quốc gia, nước ta đã có được an ninh lương thực, nhưng có thể nói chưa đảm bảo chắc chắn an ninh thực phẩm hộ gia đình và cá thể đặc biệt là an ninh dinh dưỡng [28]. Số liệu giám sát dinh dưỡng năm 2010 của VDD cũng chỉ ra rằng: Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và duyên Hải miền Trung và Tây Nguyên là 3 khu vực có tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi cao nhất, đồng thời cũng là các khu vực có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất của Việt Nam [29].
Đảm bảo ANLT, đặc biệt là an ninh lương thực hộ gia đình là giải pháp quan trọng nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng. Một trong những nội dung quan trọng của “Chương trình cải thiện an ninh dinh dưỡng, thực phẩm hộ gia đình và đáp ứng dinh dưỡng trong trường hợp khẩn cấp” thuộc 7 chương trình, đề án, dự án chủ yếu nhằm thực hiện “Chiến lược quốc gia về dinh dưỡng giai đoạn 2011 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030” đó là “Xây dựng mô hình phát triển kinh tế và tạo nguồn thực phẩm tại chỗ nhằm đảm bảo an ninh lương thực thực phẩm thích hợp cho từng vùng” đã được đặt ra [30].