Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Vài nét về lịch sử bệnh tay chân miệng Bệnh TCM được Robinson và cộng sự lần đầu mô tả ở Canada năm 1957, đặc trưng: sốt, tổn thương ở hầu họng và mụn nước ở bàn tay, bàn chân, mông, gối liên quan với Coxsakievirus A16. Alsop và cộng sự ghi nhận một vụ dịch tương tự ở Anh năm 1959 và đặt tên là bệnh TCM. Nhiễm Enterovirus 71 được phát hiện lần đầu tiên vào năm 1969 tại California, Hoa Kỳ. Sau đó, bệnh liên tục được ghi nhận ở các quốc gia như Australia (1972), Thụy Điển (1973), Nhật Bản (1975), Bun-ga-ry (1978), Hung-ga-ry (1979), Pháp (1985).
Đến năm 1997 bệnh được phát hiện ở Hồng Kông, Singapore, Malaysia. Năm 2000 bệnh được phát hiện ở Đài Loan, Trung Quốc [38, 39]. Đến nay bệnh TCM được ghi nhận ở hầu hết các nước trên thế giới, tập trung chủ yếu tại các nước khu vực Châu Á- Thái Bình Dương. WHO nhận định, bệnh TCM đang thực sự đe dọa tính mạng và sức khoẻ trẻ em ở các nước châu Á [39].
Việt Nam ghi nhận ca mắc TCM đầu tiên vào năm 2003, đến năm 2012 có sự gia tăng bất thường của bệnh TCM ở khu vực các tỉnh phía Nam với số ca mắc tăng gấp 6 lần, số tử vong gấp 6-24 lần so với giai đoạn 2008-2011, tỷ lệ chết/mắc là 0,2% [14]. Tại nước ta, bệnh TCM gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương trong cả nước, số mắc thường tăng từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 [14, 26].2 Đặc điểm chung của bệnh tay chân miệng Bệnh TCM thuộc nhóm B trong Luật Phòng chống bệnh truyền nhiễm, có mã quy định quốc tế ICD-10 là A08. Đây là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, dễ gây thành dịch. Biểu hiện chính của bệnh là tổn thương da, niêm mạc dưới dạng phỏng nước ở các vị trí đặc biệt như niêm mạc miệng, lòng bàn tay, lòng bàn chân, mông, gối.
Bệnh có thể gây nhiều biến chứng nguy hiểm như viêm não - màng não, viêm cơ tim, phù phổi cấp dẫn đến tử vong nếu không được phát hiện sớm và xử trí kịp thời. Các trường hợp biến chứng nặng thường do EV71 [26, 27].1 Tác nhân gây bệnh Bệnh TCM do các v i r ú t thuộc nhóm v i r ú t đường ruột gây ra. Các vi rút có khả năng gây bệnh TCM trong nhóm này gồm vi rút Coxsackies, và các vi rút đường ruột khác, trong đó hay gặp là vi rút đường ruột týp 71 (EV71) và 5 CoxsackieA16. Vi rút EV71 có thể gây các biến chứng nặng và dẫn đến tử vong.
Các v i r ú t đường ruột khác thường gây bệnh nhẹ. V i r ú t có thể tồn tại nhiều ngày ở điều kiện bình thường và nhiều tuần ở nhiệt độ 40C. Tia cực tím, nhiệt độ cao, các chất diệt trùng như formaldehyt, các dung dịch khử trùng có chứa Clo hoạt tính có thể diệt vi rút[27].2 Nguồn bệnh, thời kỳ ủ bệnh và thời kỳ lây truyền Nguồn bệnh: là người mắc bệnh, người mang v i r ú t không triệu chứng. Thời kỳ ủ bệnh: từ 3 đến 7 ngày.
Thời kỳ lây truyền vài ngày trước khi phát bệnh, mạnh nhất trong tuần đầu của bệnh và có thể kéo dài vài tuần sau đó, thậm chí sau khi bệnh nhân hết triệu chứng. Vi r ú t có khả năng đào thải qua phân trong vòng từ 2 đến 4 tuần, cá biệt có thể tới 12 tuần sau khi nhiễm. Vi r ú t cũng tồn tại, nhân lên ở đường hô hấp trên và đào thải qua dịch tiết từ hầu họng trong vòng 2 tuần. Vi r ú t cũng có nhiều trong dịch tiết từ các nốt phỏng nước, vết loét của bệnh nhân [27] .3 Đường lây truyền Bệnh TCM lây truyền qua đường tiêu hoá: nước uống, bàn tay của trẻ hoặc của người chăm sóc trẻ, các đồ dùng, đặc biệt là đồ chơi và vật dụng sinh hoạt hàng ngày như chén, bát, đĩa, thìa, cốc bị nhiễm v i r ú t từ phân hoặc dịch nốt phỏng, vết loét hoặc dịch tiết đường hô hấp, nước bọt.
Ngoài ra, bệnh cũng có thể lây truyền do tiếp xúc trực tiếp người – người qua các dịch tiết đường hô hấp, hạt nước bọt. Một số yếu tố có thể làm gia tăng sự lây truyền và bùng phát dịch bao gồm: mật độ dân số cao, nhà ở chật chội; điều kiện vệ sinh kém; thiếu nhà vệ sinh; thiếu hoặc không có nước sạch phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày [27].4 Tính cảm nhiễm Mọi người đều có thể cảm nhiễm với vi rút gây bệnh nhưng không phải tất cả những người nhiễm vi rút đều có biểu hiện bệnh. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp ở trẻ dưới 5 tuổi, đặc biệt ở nhóm dưới 3 tuổi. Người lớn ít bị mắc bệnh có thể do đã có kháng thể từ những lần bị nhiễm hoặc mắc bệnh trước đây [26].
Enterovirus 71 (EV71) là loại v i r ú t nguy hiểm chưa có vắc xin phòng ngừa và chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Ngoài tấn công vùng da và họng gây phỏng nước, EV71 còn có xu hướng tấn công lên hệ thần kinh trung ương, đặc biệt là vùng thân não và hành tủy. Khi v i r ú t tấn công vào não của trẻ sẽ ảnh hưởng đến hô hấp và tim mạch gây 6 phù phổi, suy tim. Đa số các trường hợp TCM sẽ tự khỏi, nhưng nếu do tác nhân EV71, một số trẻ có biến chứng rất nguy hiểm là viêm não, viêm cơ tim, viêm màng não.
Điều nguy hiểm hơn là các biến chứng này rất khó phát hiện sớm nếu thầy thuốc không có kinh nghiệm và người nhà không chú ý [27].3 Biến chứng Biến chứng thần kinh: Viêm não, viêm thân não, viêm não tủy, viêm màng não, liệt dây thần kinh sọ não, bại liệt, co giật, hôn mê là dấu hiệu nặng, thường đi kèm với suy hô hấp, tuần hoàn. Các biến chứng tim mạch, hô hấp: Viêm cơ tim, phù phổi cấp, tăng huyết áp, suy tim, trụy mạch.4 Phòng bệnh Hiện tại bệnh chưa có vắc xin phòng, chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, thực hiện vệ sinh cá nhân sạch sẽ là cách phòng bệnh TCM vừa đơn giản lại vừa hiệu quả nhất hiện nay. Đặc biệt nên chú ý đến vệ sinh bàn tay, phải thường xuyên rửa sạch với xà phòng sát khuẩn nhiều lần trong ngày cho người chăm sóc trẻ, cho trẻ sau khi chơi đùa, trước khi ăn và sau khi đi vệ sinh, khuyên trẻ không đưa tay hoặc cho đồ chơi vào miệng. Thường xuyên vệ sinh nhà cửa, lau nền nhà bằng các dung dịch sát khuẩn tối thiểu 1 lần/tuần.
Nếu trẻ đang đi học, phụ huynh nên kết hợp với giáo viên vệ sinh sạch sẽ lớp học, nhà vệ sinh và các vật dụng, đồ chơi. Nếu trẻ có dấu hiệu mắc bệnh TCM, ngay lập tức cho trẻ nghỉ học và đưa đến cơ sở y tế để khám, điều trị theo phác đồ của bác sĩ, tránh lây lan trong cộng đồng. Cách ly trẻ bệnh tại nhà không cho trẻ đến nhà trẻ, trường học, nơi các trẻ chơi tập trung trong 10-14 ngày đầu của bệnh. Thực hiện dinh dưỡng hợp lý, thức ăn cho trẻ cần đảm bảo đủ chất dinh dưỡng; ăn chín, uống chín, bát, đũa, thìa và các vật dụng ăn uống khác phải đảm bảo được rửa sạch sẽ trước khi sử dụng; Tuyệt đối không mớm thức ăn cho trẻ; không cho trẻ ăn bốc, mút tay, ngậm mút đồ chơi; không cho dùng chung khăn ăn, khăn tay, vật dụng ăn uống [27].
5 Tình hình bệnh TCM trên thế giới và Việt Nam 1.1 Tình hình bệnh TCM trên thế giới Cập nhật tình hình bệnh TCM của WHO tại một số quốc gia có báo cáo thường xuyên như sau [38]. Khu vực Bắc bán cầu (Trung Quốc không cập nhật) tính đến 30 tháng 6 năm 2015 đã có 984.699 trường hợp mắc bệnh TCM đã được báo cáo, giảm 71% so với 7 cùng kỳ năm 2014 (n = 1.640), trong đó có 28 trường hợp tử vong trong năm 2015 [38]. So cùng kỳ 6 tháng đầu năm 2014 bệnh TCM vẫn tiếp tục gia tăng theo chu kỳ của nó từ tháng 3 đến tháng 6 hàng năm, tuy số ca mắc 6 tháng 2015 thấp hơn so với cùng kỳ năm 2012 và năm 2014 nhưng vẫn nằm trong ngưỡng cao và cao hơn năm 2013. Tại Nhật Bản tính đến 8 tháng năm 2015 đã có 216.971 trường hợp mắc bệnh TCM số trường hợp mắc hàng tuần của bệnh TCM đã vượt qua con số trung bình trong những năm trước.
Vi rút thường xuyên nhất được xác định là loại v i r ú t Coxsackie A16 và A6 [38]. Trong đó năm 2015 số ca mắc tăng cao hơn nhiều so với những năm 2012, 2013, 2014 và bệnh chưa có dấu hiệu dừng lại, tiếp tục tăng trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 6 hàng năm, chu kỳ mắc bệnh 3 đến 4 năm. Tương tự tại Singapore và Hồng Kông (Trung Quốc) trong năm 2015 số nhập viện hàng tuần cũng tăng cao hơn cùng kỳ các năm năm 2011, năm 2012 và năm 2014 tại đây xu hướng mắc bệnh khá phức tạp, tăng giảm bất thường qua các tháng trong năm, bệnh thường tăng ngay từ những tuần đầu của mỗi năm và kéo dài ca mắc đến hết tuần 52 bệnh luôn nằm ở mức trên 200 ca [38].2 Ở Việt Nam Tại Việt Nam, bệnh TCM được ghi nhận từ năm 2003 ở thành phố Hồ Chí Minh. Bệnh TCM chính thức được đưa vào hệ thống báo cáo thường quy của Bộ Y tế từ năm 2011.
Từ năm 2012 đến nay bệnh luôn có những diễn biến phức tạp, số ca mắc luôn ở mức cao [18]. Trong năm 2011- 2014, số ca mắc dao động từ 47.797 trường hợp, số ca tử vong từ 8 đến 145 ca [18]. Số ca mắc bệnh không có dấu hiệu thuyên giảm vẫn còn nằm ở mức cao, tuy nhiên số trường hợp tử vong giảm đáng kể qua các năm. 1: Tình hình bệnh TCM tại Việt Nam 2011-2014 [18] Tại Việt Nam tỷ lệ người mắc bệnh và tử vong cao nhất tập trung ở các tỉnh phía Nam chiếm 73% so với số ca mắc trong cả nước, số ca tử vong chỉ ghi nhận ở khu vực phía Nam, 8 trường hợp [18].
10 90000 9 76326 80000 8 8 Số mắc 8 70000 7 55739 60000 6 Số chết 50000 5 40000 4 Số chết 30000 3 Số mắc 2 20000 10533 7466 1 10000 0 0 0 2588 0 0 Miền Bắc Miền Trung Tây Nguyên Miền Nam Việt Nam Biểu đồ 1.2: Tình hình bệnh TCM tại Việt Nam phân theo khu vực năm 2014 [18] Theo WHO tại Việt Nam giai đoạn từ ngày 01/01 đến ngày 02/8/2015, đã có 24.