ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng và thế mạnh của Việt Nam, đóng góp GDP của nước nhà giải quyết được việc làm cho đa số người dân. Nước ta đi lên từ một nước nông nghiệp với dân số nông thôn là 62,6 triệu người; chiếm 64,9% dân số cả nước; trong đó số dân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp là 18,8 triệu dân, chiếm 34,5% dân số trong độ tuổi lao động tính đến tháng 4 đầu năm 2019 (Tổng cục Thống kê, 2019). Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) là một bộ phận của châu thể sông Mê Kông, được hình thành từ những trầm tích phù sa, với khí hậu cận xích đạo gió mùa nóng ẩm quanh năm, lượng mưa dồi dào, đất phù sa ngọt có độ màu mỡ cao thuận lợi để thâm canh lúa nước. Là một trong những vùng dẫn đầu về trồng và sản xuất lúa gạo tại Việt Nam, mang lại hiệu quả kinh tế cao.
ĐBSCL có gần 4 triệu ha đất nông nghiệp, mỗi năm riêng đồng bằng này có thể sản xuất ra hơn 18 triệu tấn lúa chiếm 53% sản lượng lúa gạo cả nước và chiếm trên 90% sản lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Diện tích canh tác lúa vụ Đông Xuân 2019 - 2020 khu vực ĐBSCL là 1,541 triệu ha, giảm 63.000 ha so với vụ Đông Xuân 2018 - 2019. Năng suất lúa ước đạt 69,02 tạ/ha, tăng 1,27 tạ/ha (Bộ NN&PTNT, 2020). Sóc Trăng là tỉnh nông nghiệp, trong đó, lúa được xác định là cây trồng chủ lực góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh với diện tích canh tác hằng năm trên 350.000 hecta, sản lượng đạt hơn 2 triệu tấn mỗi năm.
Tại huyện Châu Thành, mặc dù thời gian qua được các ngành chức năng huyện quan tâm hỗ trợ, nhưng tình hình sản xuất nông nghiệp của nông dân trong huyện vẫn còn gặp khó, nguyên nhân chủ yếu do thời tiết diễn biến bất thường, mưa nắng đan xen; áp thấp nhiệt đới; tình hình hạn mặn xâm nhập sâu và kéo dài, độ mặn đo được tại các điểm đo dao động từ 0,4‰ đến 1,1‰, làm thiệt hại hơn 788 ha lúa/26.000 ha vụ Đông xuân, vùng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp trên địa bàn các xã Phú Tân, Phú Tâm, An Hiệp, Thuận Hòa và thị trấn Châu Thành. Thực tế cho thấy sản lượng lúa của huyện hàng năm khá lớn nhưng vẫn còn tồn tại những yếu kém trong sản xuất: tập quán canh tác còn lạc hậu, quy mô sản xuất còn nhỏ hẹp, trình độ thâm canh chưa cao, năng suất thấp,… Mặt khác, do sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ, chịu nhiều ảnh hưởng của thời tiết, dịch bệnh và nhiều biến động của thị trường đầu vào cũng như đầu ra, nên trong mỗi vụ mùa sản xuất trong năm đều có sự biến động về 1 chi phí sản xuất, năng suất, doanh thu và lợi nhuận khác nhau làm ảnh hưởng đến thu nhập của người dân trồng lúa trong huyện. Những điều đó làm cho người dân sống bằng nghề nông, cụ thể là người dân trồng lúa có thu nhập thấp, mức sống còn thấp và đời sống còn nhiều khó khăn. Từ những vấn đề trên, tôi đã chọn đề tài: “Phân tích hiệu quả tài chính trong sản xuất lúa của nông hộ tại huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng” để đánh giá thực trạng sản xuất lúa của vùng.
Từ đó đưa ra những giải pháp giúp nông hộ sản xuất lúa có hiệu quả hơn góp phần nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.1 Mục tiêu chung Phân tích hiệu quả tài chính của nông hộ trồng lúa ở huyện Châu Thành, Tỉnh Sóc Trăng và đề ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả tài chính của nông hộ trên địa bàn.2 Mục tiêu cụ thể Để đạt được mục tiêu chung của đề tài, cần thực hiện các mục tiêu cụ thể sau: Mục tiêu 1: Phân tích hiệu quả tài chính trong sản xuất lúa của nông hộ ở huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Mục tiêu 2: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của nông hộ sản xuất lúa ở huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng. Mục tiêu 3: Đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả tài chính sản xuất lúa của nông hộ tại huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Câu hỏi 1: Tình hình sản xuất lúa trên địa bàn nghiên cứu hiện nay như thế nào? Câu hỏi 2: Các nhân tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của nông hộ sản xuất lúa? Câu hỏi 3: Hiệu quả tài chính đạt được của nông hộ sản xuất lúa như thế nào? Câu hỏi 4: Có những giải pháp nào để nâng cao hiệu quả tài chính trong sản xuất lúa ở nông hộ tại huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng? 2 1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.1 Phạm vi về không gian Đề tài được thực hiện trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng cụ thể là ở 02 xã: Hồ Đắc Kiện và thị trấn Châu Thành. Các nông hộ được phỏng vấn theo tiêu chí là có tham gia sản xuất lúa vụ Đông Xuân năm 2020 - 2021.2 Phạm vi về thời gian Số liệu sơ cấp được thu thập qua bảng câu hỏi khảo sát trực tiếp các nông hộ trồng lúa vụ Đông Xuân 2020-2021 và số liệu thứ cấp sử dụng là số liệu từ 2018 đến tháng 6/2021 được thu thập trên các báo chí khoa học, cổng thông tin điện tử, sở Nông nghiệp tỉnh Sóc Trăng, phòng Nông nghiệp huyện Châu Thành.3 Đối tượng nghiên cứu Phân tích hiệu quả tài chính sản xuất lúa của nông hộ tại huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.5 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU Dựa trên cơ sở các nghiên cứu trước đây về các loại sản phẩm nông nghiệp của nông hộ tại một địa phương cụ thể cho thấy các đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả, mô hình hồi quy tuyến tính đa biến,.
để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính, hiệu quả kinh tế, sản xuất của sản phẩm nông nghiệp.1 Lược khảo các nghiên cứu có liên quan Tác giả và Phương pháp Tên đề tài Kết quả năm xuất bản nghiên cứu Phân tích hiệu quả Dương Ngọc Mô hình hồi Kinh nghiệm (+), tài chính mô hình Thành, Nguyễn quy đa biến trình độ học vấn sản xuất xoài cát ở Vũ Phong (+), diện tích (+), tỉnh Đồng Tháp (2014) chi phí đầu tư (+), tham gia hội đoàn (+), tham gia tậphuấn (+). Hiệu quả tài chính Khổng Tiến Phương pháp Giá phân NPK, và sự sẳn lòng Dũng (2020) thống kê mô tả, DAP, URE KALI chuyển đổi mô Phương pháp (+), giá thuốc (-), hình lúa hữu cơ so sánh mô giá giống (-), diện của nông hộ ở hình hàm lợi tích (+). ĐBSCL nhuận Cobb Douglas, hàm logit Phân tích tình hình Nguyễn Quốc Thống kê mô Chi phí lao động sản xuất, tiêu thụ Nghi, Lưu tả, mô hình hồi (+), số năm kinh và giải pháp nâng Thanh Đức Hải qui tuyến tính, nghiệm (+), tập cao hiệu quả sản (2009) phân tích huấn kỹ thuật (+). xuất khóm ở tỉnh SWOT.
Phân tích hiệu quả Nguyễn Tuấn Mô hình hồi Chi phí phân (-), hoạt động sản xuất Kiệt (2017) quy đa biến chi phí thuốc (-), lúa của chương kinh nghiệm (+), trình cùng nông tập huấn (+), diện dân ra đồng với tích (+), TĐHV doanh nghiệp tại (+). huyện Vĩnh Hưng, tỉnh Long An. 4 Tác giả và Phương pháp Tên đề tài Kết quả năm xuất bản nghiên cứu Phân tích hiệu quả Nguyễn Văn Phân tích hồi Vốn vay (-), trình kinh tế của nông hộ Tiền, Phạm Lê qui tuyến tính độ học vấn (+), trồng sen trên địa Thông (2014) đa biến. diện tích đất canh bàn tỉnh Đồng tác (-).
Tháp Phân tích hiệu quả Nguyễn Thị Phương pháp Diện tích (+), kinh tài chính của nông Thu An và Võ thông kê mô tả. nghiệm (+), tín hộ trồng ớt ở vùng Thị Thanh Lộc Phương pháp dụng (+), TĐHV ĐBSCL (2017) hồi qui tuyến (+), trồng ớt theo tính đa biến. tiêu chuẩn chất lượng (+), chi phí đầu vào (-), chi phí tăng thêm (-). Nguồn: Tác giả tổng hợp (2021) Biến trình độ học vấn được hầu hết các nhóm tác giả lựa chọn vào mô hình Nguyễn Thị Thu An, Võ Thị Thanh Lộc (2017), Nguyễn Tuấn Kiệt (2017), Dương Ngọc Thành, Nguyễn Vũ Phong (2014) với hệ số dương.
Trình độ cao nông dân sẽ có điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp thu kỹ thuật sản xuất tiến bộ, nắm bắt thông tin thị trường và tiếp cận các nguồn đầu ra, thông tin thị trường linh hoạt hơn hộ có trình độ thấp. Biến kinh nghiệm có hệ số dương trong nghiên cứu của nhóm tác giả Dương Ngọc Thành, Nguyễn Vũ Phong (2014), Nguyễn Thị Thu An, Võ Thị Thành Lộc (2017), Nguyễn Quốc Nghi, Lưu Thanh Đức Hải (2009). Hộ có kinh nghiệm càng cao sẽ có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng lúa và hiểu rõ về tình hình sâu hại dịch bệnh. Biến diện tích lúa có tác động cùng chiều với mô hình và mang dấu dương theo nghiên cứu của các nhóm tác giả Dương Ngọc Thành, Nguyễn Vũ Phong (2014), Nguyễn Thị Thu An, Võ Thị Thành Lộc (2017), Nguyễn Tuấn Kiệt (2017).
Diện tích của nông hộ tương đối lớn sẽ thuận lợi áp dụng các quy trình kỹ thuật, chất lượng đồng nhất và cho sản lượng lớn. Mở rộng qui mô diện tích sản xuất, biết tận dụng nguồn lực hợp lý thì thu nhập đạt được sẽ cao hơn. Riêng đề tài nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Văn Tiển, Phạm Lê Thông (2014), lại cho kết quả ngược lại, do trình độ canh tác và quản lý của 5 nông dân chưa cao nên không thể đảm đương tốt những vấn đề phát sinh khi sản xuất với quy mô lớn, do vậy, làm giảm hiệu quả của quá trình sản xuất trên quy mô diện tích lớn. Biến tập huấn của nhóm tác giả Nguyễn Thị Thu An, Võ Thị Thành Lộc (2017), Dương Ngọc Thành, Nguyễn Vũ Phong (2014), Nguyễn Quốc Nghi, Lưu Thanh Đức Hải (2009), Nguyễn Tuấn Kiệt (2017), mang hệ số dương và có tác động cùng chiều với mô hình nghiên cứu.
Có thể thấy tập huấn mang lại rất nhiều lợi ích, nông dân có thể tiếp cận được nhưng tiến bộ khoa học kĩ thuật hiện đại, năm bắt thông tin thị trường, tiếp thu kiến thức từ cán bộ nông nghiệp ở địa phương. Bên cạnh đó tham gia các lớp tập huấn là cơ hội để nông dân gặp gỡ trao đổi kinh nghiệm sản xuất, nâng cao sản lượng thu nhập. Biến giá giống, giá phân chuẩn hóa của tác giả Khổng Tiến Dũng (2020) trong nghiên cứu có giá phân Kali mang hệ số dương ngược chiều với mô hình nghiên cứu. Có thể thấy giá các yếu tố đầu vào tăng sẽ làm ảnh hưởng đến chi phí sản xuất, làm giảm lợi nhuận từ việc trồng lúa.