phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án đƣợc cấu trúc thành 5 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý thuyết về hiệu quả sử dụng nguồn lực của ngân hàng thƣơng mại và tăng trƣởng kinh tế Chƣơng 2. Phƣơng pháp và mô hình nghiên cứu mối quan hệ giữa hiệu quả sử dụng nguồn lực của các ngân hàng thƣơng mại và tăng trƣởng kinh tế Chƣơng 3. Tăng trƣởng kinh tế và hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thƣơng mại Việt Nam Chƣơng 4.
Phân tích mối quan hệ giữa hiệu quả sử dụng nguồn lực của các ngân hàng thƣơng mại và tăng trƣởng kinh tế tại Việt Nam Chƣơng 5. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực của các ngân hàng thƣơng mại góp phần th c đẩy tăng trƣởng kinh tế tại Việt Nam 1 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ TĂNG TRƢỞNG KINH TẾ Để thực hiện đƣợc các mục tiêu nghiên cứu của luận án, nội dung của Chƣơng 1 sẽ hệ thống hoá các cơ sở l thuyết về hiệu quả sử dụng nguồn lực của NHTM và mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính nói chung và hệ thống NHTM nói riêng đối với tăng trƣởng kinh tế. Mục đích nghiên cứu của Chƣơng bao gồm: Giới thiệu và phân loại hiệu quả sử dụng nguồn lực của NHTM.
Hệ thống hoá cơ sở l luận về mối quan hệ giữa hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính và hiệu quả sử dụng nguồn lực của NHTM đối với tăng trƣởng kinh tế. NGUỒN LỰC VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Ngân hàng thƣơng mại C ng với sự phát triển chung của xã hội, ngân hàng và hoạt động kinh doanh ngân hàng c ng không ngừng phát triển. Ngày nay, các nhà kinh tế đƣa ra nhiều khái niệm khác nhau về ngân hàng và hoạt động kinh doanh ngân hàng: Theo Mishkin (2003), ngân hàng là tổ chức tài chính nhận tiền gửi chủ yếu dƣới dạng không kỳ hạn hoặc tiền gửi đƣợc rút ra với một thông báo ngắn hạn (tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và các khoản tiết kiệm).
Rose (2008) cho rằng NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán – và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2 khoá XII thông qua ngày 29 tháng 06 năm 2010, NHTM là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trƣớc đây, ngân hàng ch đóng vai trò là tổ chức tài chính trung gian giữa chủ thể thừa vốn và chủ thể thiếu vốn trong nền kinh tế nhƣng các ngân hàng hiện đại ngày nay đã thực hiện nhiều chức năng, vai trò mới nhằm đáp ứng cho yêu cầu phát triển của nền kinh tế và đảm bảo tính cạnh tranh để phát triển. Do đó các hoạt động kinh doanh ngân hàng c ng với các dịch vụ ngân hàng cung cấp cho khách hàng ngày càng đa dạng.1: Chức năng cơ bản của ngân hàng hiện đại Chức năng Chức năng Chức năng Chức năng bảo hiểm ủy thác tín dụng thanh toán Chức năng Chức năng môi giới Ngân hàng hiện đại tiết kiệm Chức năng ngân Chức năng hàng đầu tƣ lập kế hoạch và bảo lãnh Chức năng quản lý tiền mặt đầu tƣ Nguồn: Rose (2008) Theo Rose (2008), ngày nay các ngân hàng đang mở rộng danh mục các dịch vụ mới cung cấp cho khách hàng dƣới áp lực cạnh tranh của các định chế tài chính khác, từ sự hiểu biết và đòi h i cao hơn của khách hàng c ng với các cải tiến về công nghệ ngân hàng.
Sự chuyển dịch trong cơ cấu doanh thu của ngân hàng từ các dịch vụ truyền thống nhƣ: tín dụng, huy động vốn, chiết khấu, uỷ thác… sang các dịch vụ ngân hàng hiện đại: tƣ vấn tài chính, quản l tiền mặt, dịch vụ ngân hàng đầu tƣ… làm gia tăng rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.2: Hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng hiện đại Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của ngân hàng hiện đại Hoạt động Nghiệp vụ tài sản nợ Nghiệp vụ tài sản có cung cấp dịch vụ Nghiệp vụ tạo nguồn Nghiệp vụ ngân quỹ Nghiệp vụ chuyển tiền vốn Nghiệp vụ cho vay Nghiệp vụ ủy thác Nghiệp vụ huy động Nghiệp vụ đầu tƣ Nghiệp vụ tƣ vấn tài chính vốn Nghiệp vụ tài sản có khác Nghiệp vụ thanh toán Nghiệp vụ vay vốn Nghiệp vụ môi giới Nghiệp vụ phát hành thƣ tín dụng, bảo lãnh Dịch vụ ngân hàng đại lý Nguồn: Rose (2008) Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 xác định hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thƣờng xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản. Theo phân loại của Rose (2008), hệ thống các ngân hàng bao gồm: ngân hàng thƣơng mại, ngân hàng đầu tƣ, ngân hàng phát triển, ngân hàng tiết kiệm, ngân hàng bán buôn, ngân hàng bán lẻ…. Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng đƣợc chia thành các hoạt động nghiệp vụ chính: Nghiệp vụ tài sản nợ là nghiệp vụ liên quan giúp hình thành nguồn vốn hoạt động ban đầu và nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng; Nghiệp vụ tài sản có của ngân hàng là nghiệp vụ sử dụng các nguồn vốn của ngân hàng vào hoạt động 4 kinh doanh nhằm kiếm lời trên cơ sở đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng; Bên cạnh việc thực hiện các nghiệp vụ tài sản nợ và nghiệp vụ tài sản có các ngân hàng còn thực hiện việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng. Khi thực hiện việc cung cấp các dịch vụ thì các ngân hàng là định chế tài chính trung gian thực hiện những uỷ nhiệm hay yêu cầu của khách hàng.
Nguồn lực của ngân hàng thƣơng mại Nguồn lực và phân loại nguồn lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung và hoạt động kinh doanh ngân hàng nói riêng có nhiều khác biệt. Tuỳ vào cách tiếp cận khác nhau, nguồn lực đƣợc phân loại khác nhau, nhƣng nhìn chung có 2 loại chính: (i) theo đặc trƣng kinh tế – xã hội, nguồn lực kinh tế bao gồm tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động, khoa học công nghệ và nguồn lực phi kinh tế bao gồm thể chế, đƣờng lối, chính sách, văn hoá; (ii) theo khu vực hành chính, có nguồn lực bên trong và nguồn lực bên ngoài. Samuelson (2002) sử dụng khái niệm đầu vào, đầu ra để đo lƣờng hiệu quả sử dụng nguồn lực của các NHTM. Nền kinh tế sử dụng công nghệ sẵn có để kết hợp các yếu tố đầu vào nhằm sản xuất ra các đầu ra.
Đầu vào là các yếu tố sản xuất bao gồm tài nguyên thiên nhiên, lao động, vốn, khoa học – công nghệ. Schiller (2002) cho rằng những nguồn lực d ng để sản xuất ra hàng hoá dịch vụ bao gồm: đất đai, vốn, lao động, khoa học công nghệ. Đề cập về nguồn lực Zich (2005) cho rằng nguồn lực là tất cả phƣơng tiện đƣợc sử dụng với những cách thức khác nhau để đạt đƣợc mục tiêu đề ra. Trong nghiên cứu của Lê Du Phong (2006) thì nguồn lực là tổng hợp các yếu tố vật thể và phi vật thể tạo nên nền kinh tế của đất nƣớc và th c đẩy nó phát triển.
Nguồn lực đƣợc định nghĩa là toàn bộ những yếu tố đã đang và sẽ tham gia vào quá trình th c đẩy, phát triển, cải biến xã hội của một quốc gia. Nguồn lực phát triển kinh tế là tổng thể nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia, nguồn nhân lực và 5 các yếu tố phi vật thể cả trong và ngoài nƣớc có khả năng khai thác, sử dụng nhằm th c đẩy quá trình phát triển kinh tế - xã hội (Phạm Thanh Khiết 2011). Trong nghiên cứu này, nguồn lực đƣợc xem là các yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất hay hoạt động kinh doanh. Nguồn lực cho sản xuất là tất cả các yếu tố đầu vào phục vụ cho sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm cho xã hội.
Nguồn lực của NHTM là toàn bộ những yếu tố đã đang và sẽ tham gia vào quá trình th c đẩy, phát triển nhằm tìm kiếm lợi nhuận, cân bằng giữa rủi ro và lợi nhuận trong quản l danh mục đầu tƣ với mục tiêu tối đa hoá tài sản cổ đông của NHTM. Dựa trên các cách phân loại trên, nguồn lực của NHTM đƣợc chia làm ba loại chính: nguồn nhân lực, nguồn vốn, và nguồn lực vật chất đƣợc đại diện bằng mức ứng dụng khoa học công nghệ. Đây là ba nguồn lực quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM. Nguồn nhân lực Nguồn lực con ngƣời hay nguồn nhân lực, là khái niệm đƣợc hình thành trong quá trình nghiên cứu, xem xét con ngƣời với tƣ cách là một nguồn lực, là động lực của sự phát triển.
Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc gần đây đề cập đến khái niệm nguồn nhân lực với các góc độ khác nhau. Ngô Doãn Vịnh và cộng sự (2011) thì Liên Hợp Quốc định nghĩa “Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con ngƣời hiện có thực tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng”. Begg và cộng sự (1995), “Nguồn nhân lực là toàn bộ quá trình chuyên môn mà con ngƣời tích luỹ đƣợc, nó đƣợc đánh giá cao vì tiềm năng đem lại thu nhập trong tƣơng lai. C ng giống nhƣ nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực là kết quả đầu tƣ trong quá khứ với mục đích đem lại thu nhập trong tƣơng lai”.
Nhƣ vậy, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho ngân hàng. Con ngƣời với tƣ cách là yếu tố cấu thành lực lƣợng sản xuất giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơ bản và quan trọng của sự phát triển của các ngân hàng nên không thể ch đƣợc xem xét đơn thuần ở góc độ số lƣợng hay chất lƣợng mà là sự tổng hợp của cả số lƣợng và chất lƣợng trên cơ sở những kỹ năng nghề nghiệp đặc thù, sức mạnh trí tuệ đóng góp cho sự phát triển của NHTM.