MỞ ĐẦU Châm cứu là một trong những phương pháp điều trị bệnh của Y học cô truyền tại nhiều nước Châu Á, đã được quốc tế hoá và được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) công nhận. Theo báo cáo thống kê toàn cầu về y học cô truyền của Tổ chức Y tế thế giới năm 2019, châm cứu là hình thức thực hành phổ biến nhất (được báo cáo bởi 113/120 quốc gia thành viên)[34]. Châm cứu có nhiều hình thức: hào châm, cứu, điện châm, nhĩ châm, cấy chỉ (nhu châm). Đau thắt lưng theo báo cáo được đăng trên tạp chí y khoa The Lancet là tình trạng cơ xương khớp phổ biến nhất ở dân số trưởng thành trên toàn thé giới, với tỷ lệ mắc lên tới 84%[41].
Tại Việt Nam, bệnh cơ xương khớp chiếm 20% và thoái hóa cột sống thắt lưng chiếm 31,12 %[1, 20, 21, 36]. Tại thành phó Hồ Chí Minh, tỷ lệ đau mạn tính hệ cơ xương khớp chiếm tỷ lệ 84,91% trong đau mạn tính; trong đó vị trí đau thắt lưng chiếm 30,18%[2]. Đau được xem như mạn tính nếu kéo dải hơn 3 tháng[2].Theo báo cáo năm 2019 của phòng Kế hoạch tổng hợp ở Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Hồ Chí Minh, bệnh lý Thoái hoá cột sống thắt lưng (THCSTL) chiếm 60,4 % trong các bệnh lý cơ xương khớp điều trị nội trú tại khoa cơ xương khớp. Đau thắt lưng mạn do Thoái hóa CSTL ảnh hưởng đến sinh hoạt, công việc và làm giảm chất lượng cuộc sống của người bệnh.
Các tình trạng thường kèm theo với đau thắt lưng mạn như trầm cảm (13%), lo âu (8%), rỗi loạn giác ngủ (10%)54]. Kiểm soát tốt đau mạn giúp cải thiện chất lượng cuộc sống của người bệnh luôn là một vấn đề được đặt ra cho các thầy thuốc. Đối với đau mạn tính, giảm đau đa mô thức (multimodal analgesia) đang được xem là một giải pháp tương lai[38]. Trong Y học hiện đại (YHHĐ), đề điều trị THCSTL, người ta thường sử dụng các thuốc giảm đau, kết hợp các phương pháp không dùng thuốc như vật lý trị liệu, tập vận động[45].
Trong Y học cô truyền (YHCT) cũng vậy, bên cạnh sử dụng thuốc Đông dược như Độc hoạt tang ký sinh thang, có nhiều loại hình châm cứu cũng đã được chứng minh có hiệu quả giảm đau [3, 58, 59]. Những công trình nghiên cứu gần đây cho thấy nhóm huyệt Hoa Đà Giáp Tích được sử dụng điều trị đau thắt lưng mạn có tính an toàn và hiệu quả[14]. Các công trình nghiên cứu của Phan Quan Chí Hiếu và Trương Trung Hiếu (2010) và Trịnh Thị Diệu Thường và Lê Thị Hồng Nhung (2019) cho thấy hiệu quả của điện châm trong điều trị đau thắt lưng mạn[14, 35]. Bên cạnh điện châm, nhĩ châm các huyệt trên loa tai như Thần môn TF4, điểm đau lưng hay còn gọi là vùng cột sống AH9.
cũng đã được chứng minh có hiệu quả trong điều trị đau thắt lưng mạn [44, 49, 61]. Với mong muốn tìm kiếm một mô hình điều trị kết hợp các phương pháp không dùng thuốc đem lại hiệu quả điều trị đau thắt lưng mạn cũng như nhằm cung cấp thêm bằng chứng khoa học cho mô hình kết hợp nhĩ châm v điện châm tần số 100 Hz trên Hoa Đà Giáp Tích, chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài này. Câu hỏi mà chúng tôi đặt ra là liệu kết hợp thêm nhĩ châm sẽ có hiệu quả giảm đau như thế nào so với chỉ điện châm tần số 100 Hz trên huyệt Hoa Đà Giáp Tích trong đau thắt lưng mạn do Thoái hóa CSTL? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu tông quát: So sánh hiệu quả giảm đau sau 3 tuần điều trị của nhóm nhĩ châm vùng Thần môn - điểm đau lưng kết hợp điện châm tân số 100 Hz trên huyệt Hoa Đà Giáp Tích với nhóm chỉ điện châm tần số 100 Hz trên huyệt Hoa Đà Giáp Tích trong điều trị dau that lung man do THCSTL.
Muc tiéu cu thé: 2. Đánh giá mức độ dau của từng nhóm theo thang điểm QDSA và mức độ mắt chức năng hoạt động của CSTL theo thang điểm ODI tại các thời điểm (NO, N7, N14, N21). So sanh ty 1é giam dau va diém dau trung binh theo thang diém QDSA giữa 2 nhóm tại các thời điểm (N7, N14, N21). So sánh tỷ lệ cải thiện mất chức năng hoạt động CSTL và điểm ODI trung bình theo thang điểm Owestry giữa 2 nhóm tại các thời điểm (N7, N14, N2I).
Xác định tỷ lệ xuất hiện từng tác dụng phụ ở mỗi nhóm tại thời điểm N21. TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tống quan về điện châm [7, 33] 1. Phương pháp điện châm Điện châm là phương pháp kích thích điện lên huyệt qua kim châm, hoặc qua điện cực nhỏ đề phòng và trị bệnh.
Điện châm thay thế cho thủ pháp vê tay kích thích huyệt một cách đều đặn, nhịp nhàng, làm dịu cơn đau một cách nhanh chóng[33]. Cơ sở lý luận của điện châm Các máy điện châm hiện nay chỉ sử dụng dòng điện xung. Dòng xung là dòng điện ngắt quãng có những chuỗi xung xen kẽ với các khoảng thời gian không có dòng điện. Dòng xung có nhiều ứng dụng trong kiểm soát đau, gây co cơ, dinh dưỡng.
Hiệu ứng của điện châm được điều chỉnh bởi nhiều yếu tố, bao gồm dạng sóng, tần số xung, cường độ và thời gian thông điện[33]. Dạng sóng có 3 dạng: sóng nhọn, sóng vuông (sóng hình chữ nhật) và sóng hình sin. Sóng vuông có tác dụng giảm đau, an than,. thường được sử dụng trong điều trị giảm đau cấp và mạn tính.
Các thông số cơ bản của dòng điện xung bao gồm cực điện, pha, thời gian xung, tần số xung và cường độ dòng xung. Trong điện châm, dòng xung sử dụng có hai cực là cực âm (quy ước dây màu đen) và cực dương (quy ước đây màu đỏ). Cực đương có tính ức chế hơn cực âm và ngược lại, cực âm có tính kích thích hơn cực dương do tác dụng làm giảm điện thế màng và tạo điện thế động ở cực âm. Dòng xung có thể di chuyển theo một hướng (đơn pha) hoặc cả hai hướng (hai pha).
Thời gian xung chỉ độ dài của một xung, đơn vị us. Thời gian xung ngắn thường được ding dé giam dau va thoi gian xung dai dé kich thich co co. Tan sé xung 1a số chu kỳ hoặc số xung trong mỗi giây, đơn vị tính bằng Hz. Ví dụ như tần số 100 Hz có nghĩa là 100 xung trong mỗi giây.
Tác dụng giảm đau của các tần số khác nhau của điện châm qua trung gian các trung tâm khác nhau. Đối với điện châm tần số cao, nhân parabrachial cầu não giữ vị trí quan trọng trong giảm đau. Cường độ dòng xung là độ cao (biên độ) của xung, phụ thuộc vào cảm giác của người bệnh và loại dây thần kinh bị hoạt hóa. Dòng điện được kim dẫn trực tiếp tới các tổ chức tế bào của cơ thể thông qua huyệt là nơi có điện trở da thấp nhất.
Diện tích của kim tiếp xúc với cơ thể khoảng 0.5 cm2 do đó mật độ điện cao. Chỉ cần đưa vào huyệt một lượng điện nhỏ cũng có thể tạo ra một kích thích đủ mạnh[33]. Tác dụng sinh lý của dòng điện xung Tác dụng lâm sàng của kích thích điện là do kết quả dòng điện xung tạo ra điện thế hoạt động ở các sợi thần kinh cảm giác và/hoặc vận động. Một khi điện thế hoạt động được tạo ra, nó khởi phát một điện thế hoạt động màng tế bào thần kinh ở vùng kế cận.
Điều này được gọi là sự lan truyền hoặc dẫn truyền điện thế hoạt động dọc tế bào thần kinh. Tác dụng kích thích nhờ vào sự lên xuống của cường độ xung (độ dốc lên xuống càng dựng đứng bao nhiêu thì kích thích càng mạnh). Tác dụng ức chế cảm giác và giảm trương lực cơ xuất hiện nhanh khi tần số xung lớn hơn 60 Hz. Tần số gây ức chế tốt nhất là 100 — 150 Hz[33].
Kich thich xung lién tuc (Continuous pulse) tan số cao (50 — 100 Hz, có thể đến 1500 — 2000 Hz, thường dùng từ 100 Hz - 150 Hz) có tác dụng ức chế sự kích thích của các dây thần kinh cảm giác và vận động, thường được sử dụng để giảm đau và thư giãn cơ bắp bị co thắt[33]. Thời gian thông điện trong điện châm giảm đau thường là 20 — 30 phút để đạt mức tăng ngưỡng đau cao nhất trong cơ thể người, và kích thích điện sẽ duy trì hiệu quả giảm đau ở mức tốt nhất[33]. Chỉ định và chống chỉ định của điện châm Chỉ định: giảm đau, giảm viêm trong các bệnh lý khác nhau: thoái hóa khớp, đau thần kinh tọa, viêm khớp. Chống chỉ định: vùng da trước khi châm có viêm, nhiễm, lở loét; người bệnh đang đặt máy tạo nhịp.
Tống quan về huyệt Hoa Đà Giáp Tích [7, 25] Hoa Đà Giáp Tích là những huyệt nằm dọc hai bên cột sống. Có tổng cộng 56 huyệt từ đưới gai sau đốt sống cô 1 (C1) đến dưới gai sau đốt sống cùng 4 (S4) đo ra hai bên 0. Qua các tài liệu từ xưa đến nay tác động lên hệ thống Hoa Đà Giáp Tích tương Ứng với vùng cơ thể chịu sự chỉ phối của tiết đoạn thần kinh tủy sống. HỆ THỐNG HUYỆT GIAP TICH HOA DA Hình 1.
Nhóm huyệt Hoa Đà Giáp Tích Ứng dụng huyệt Hoa Đà Giáp Tích trong điều trị[31]: Nhóm huyệt Hoa Đà Giáp Tích từ LI — L5: cho các chứng bệnh thoái hóa cột sống thắt lưng, viêm đại tràng, viêm đường tiết niệu, rối loạn kinh huyệt. Tổng quan về nhĩ châ Những hiểu biết về tác động vào vùng tai để chữa bệnh toàn thân trước đây đã được đề cập và có cơ sở khoa học nhất định. Trong hội nghị châm cứu ở Pháp tháng 2 năm 1956, Nogier đã giới thiệu kinh nghiệm châm loa tai. Nogier đưa ra giả thuyết loa tai là hình ảnh xuất chiếu của bào thai nằm cuộn tròn trong tử cung và xây dựng hình đồ huyệt, vùng loa tai gồm 18 điểm.
Từ hình đồ huyệt loa tai này, gần đây, nhiều nhà châm cứu của nhiều nước đã đưa số huyệt vùng loa tai lên đến 20033]. Giải phẫu học loa tai [11] Loa tai như hình một vành loa, hai bên dính vào đầu, ở trước Xương chữm, ở sau khớp thái dương hàm, cao từ 6 — 6,5 cm; rộng từ 25 — 35 mm, loa tai có 2 mặt là trước và sau.