Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng trong Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Hiệp định trợ cấp và biện pháp đối kháng WTO cung cấp hướng dẫn chi tiết về quy định, thủ tục và cách áp dụng trong thương mại quốc tế.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

hướng dẫn chi tiết
66
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

I. PHẦN I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

1.1. Điều 1 Định nghĩa trợ cấp

1.2. Điều 2 Tính riêng biệt

II. PHẦN II: TRỢ CẤP BỊ CẤM

2.1. Điều 3 Những quy định cấm

2.2. Điều 4 Các chế tài

III. PHẦN III: TRỢ CẤP CÓ THỂ ĐỐI KHÁNG

3.1. Điều 5 Tác động nghịch

3.2. Điều 6 Tổn hại nghiêm trọng

3.3. Điều 7 Các chế tài

IV. PHẦN IV: NHỮNG TRỢ CẤP KHÔNG THỂ ĐỐI KHÁNG

4.1. Điều 8 Xác định những trợ cấp không thể đối kháng

Tóm tắt

I. Hiệp định trợ cấp

Hiệp định trợ cấp là một phần quan trọng trong các quy định của WTO, nhằm điều chỉnh các hình thức hỗ trợ tài chính từ chính phủ đến các doanh nghiệp. Theo Hiệp định này, trợ cấp được định nghĩa là sự đóng góp tài chính từ chính phủ hoặc cơ quan công cộng, bao gồm các hình thức như cấp phát, cho vay, bảo lãnh, hoặc miễn thuế. Hiệp định cũng quy định rõ các điều kiện để một khoản trợ cấp được coi là hợp pháp hoặc bị cấm, đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế.

1.1 Định nghĩa trợ cấp

Theo Hiệp định trợ cấp, một khoản trợ cấp được coi là tồn tại khi có sự đóng góp tài chính từ chính phủ hoặc cơ quan công cộng. Các hình thức này bao gồm chuyển giao vốn trực tiếp, bảo lãnh tiền vay, miễn thuế, hoặc cung cấp hàng hóa và dịch vụ. Hiệp định cũng nhấn mạnh rằng trợ cấp chỉ bị điều chỉnh nếu nó mang tính riêng biệt, tức là chỉ dành cho một nhóm doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất cụ thể.

1.2 Tính riêng biệt của trợ cấp

Tính riêng biệt là yếu tố quan trọng để xác định liệu một khoản trợ cấp có bị điều chỉnh hay không. Theo Hiệp định, trợ cấp được coi là riêng biệt nếu nó chỉ dành cho một số doanh nghiệp hoặc ngành sản xuất nhất định. Các tiêu chuẩn khách quan và điều kiện rõ ràng được đặt ra để đảm bảo tính minh bạch. Nếu trợ cấp được áp dụng một cách tuỳ tiện hoặc không công bằng, nó sẽ bị coi là vi phạm các quy định của WTO.

II. Biện pháp đối kháng

Biện pháp đối kháng là các biện pháp mà các thành viên WTO có thể áp dụng để đối phó với các khoản trợ cấp bị cấm hoặc gây tổn hại đến ngành sản xuất trong nước. Các biện pháp này bao gồm việc áp dụng thuế chống trợ cấp hoặc các biện pháp thương mại khác. Hiệp định quy định rõ quy trình tham vấn và giải quyết tranh chấp liên quan đến các biện pháp đối kháng, đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quá trình thực thi.

2.1 Quy trình tham vấn

Khi một thành viên WTO nghi ngờ về việc áp dụng trợ cấp bị cấm, họ có thể yêu cầu tham vấn với thành viên liên quan. Quy trình tham vấn nhằm làm rõ sự thật và tìm kiếm một giải pháp chung. Nếu không đạt được thỏa thuận, vấn đề sẽ được đưa ra Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB) để thành lập ban hội thẩm xem xét.

2.2 Áp dụng biện pháp đối kháng

Nếu ban hội thẩm xác định rằng trợ cấp bị cấm đang được áp dụng, DSB sẽ khuyến nghị thành viên liên quan loại bỏ trợ cấp. Nếu không tuân thủ, thành viên khiếu nại có thể áp dụng các biện pháp đối kháng phù hợp, như thuế chống trợ cấp, để bảo vệ ngành sản xuất trong nước.

III. Quy định WTO và thương mại quốc tế

Quy định WTO về trợ cấp và biện pháp đối kháng đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự công bằng và ổn định trong thương mại quốc tế. Các quy định này giúp ngăn chặn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, bảo vệ quyền lợi của các thành viên, và thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế toàn cầu. Hiệp định cũng tạo ra một khuôn khổ pháp lý rõ ràng để giải quyết các tranh chấp thương mại liên quan đến trợ cấp.

3.1 Cạnh tranh công bằng

Cạnh tranh công bằng là mục tiêu chính của các quy định về trợ cấp trong WTO. Các quy định này nhằm đảm bảo rằng không có thành viên nào được hưởng lợi bất công từ các khoản trợ cấp của chính phủ, gây tổn hại đến các doanh nghiệp và ngành sản xuất khác. Điều này giúp duy trì sự cân bằng trong thương mại quốc tế.

3.2 Giải quyết tranh chấp

WTO cung cấp một cơ chế giải quyết tranh chấp hiệu quả liên quan đến trợ cấp và biện pháp đối kháng. Các tranh chấp được xử lý thông qua quy trình tham vấn, ban hội thẩm, và cơ quan phúc thẩm, đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quá trình giải quyết.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

HIỆP ĐỊNH VỀ TRỢ CẤP VÀ CÁC BIỆN PHÁP ĐỐI KHÁNG CÁC THÀNH VIÊN, BẰNG HIỆP ĐỊNH NÀY, THOẢ THUẬN NHƯ SAU: PHẦN I: NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG Điều 1 Định nghĩa trợ cấp 1.1 Theo Hiệp định này, trợ cấp được coi là tồn tại nếu: (a)(1) có sự đóng góp về tài chính của chính phủ hoặc một cơ quan công cộng trên lãnh thổ của một Thành viên (theo Hiệp định này sau đây gọi chung là “chính phủ”) khi: (i) chính phủ thực tế có chuyển trực tiếp các khoản vốn (ví dụ như cấp phát, cho vay, hay góp cổ phần), có khả năng chuyển hoặc nhận nợ trực tiếp (như bảo lãnh tiền vay); (ii) các khoản thu phải nộp cho chính phủ đã được bỏ qua hay không thu (ví dụ: ưu đãi tài chính như miễn thuế )[1]; (iii) chính phủ cung cấp hàng hoá hay dịch vụ không phải là hạ tầng cơ sở chung, hoặc mua hàng ; (iv) chính phủ góp tiền vào một cơ chế tài trợ, hay giao hoặc lệnh cho một tổ chức tư nhân thực thi một hay nhiều chức năng đã nêu từ điểm (i) đến (iii) trên đây, là những chức năng thông thường được trao cho chính phủ và công việc của tổ chức tư nhân này trong thực tế không khác với những hoạt động thông thuờng của chính phủ. hoặc (a) (2) có bất kỳ một hình thức hỗ trợ thu nhập hoặc trợ giá nào theo nội dung Điều XVI của Hiệp định GATT 1994; và (b) một lợi ích được cấp bởi điều đó.2 Trợ cấp theo định nghĩa tại khoản khoản 1 phải chịu sự điều chỉnh của các quy định tại Phần II hoặc các quy định tại Phần III hoặc Phần V chỉ khi đó là một trợ cấp riêng theo các quy định tại Điều 2. Điều 2 Tính riêng biệt 2.1 Để xác định liệu một trợ cấp theo định nghĩa tại khoản 1 Điều 1 có được áp dụng riêng cho một doanh nghiệp hay một nhóm các doanh nghiệp hay ngành sản xuất (theo Hiệp định này gọi là “các doanh nghiệp nhất định") trong phạm vi quyền hạn của cơ quan có thẩm quyềncấp trợ cấp hay không, các nguyên tắc sau sẽ được áp dụng: (a) Khi cơ quan có thẩm quyền cấp trợ cấp hay luật mà cơ quan đó thực hiện hạn chế rõ ràng diện các doanh nghiệp nhất định được hưởng trợ cấp , thì các trợ cấp đó sẽ mang tính riêng biệt. (b) Khi cơ quan có thẩm quyền cấp trợ cấp hay luật mà cơ quan đó thực hiện đặt ra các tiêu chuẩn khách quan hoặc điều kiện[2] được trợ cấp hay giá trị khoản trợ cấp, thì không được coi là có tính riêng biệt nếu khả năng nhận trợ cấp được mặc nhiên áp dụng và các tiêu chuẩn, điều kiện đó được tuân thủ chặt chẽ.

Các tiêu chuẩn hoặc điều kiện đó phải được thể hiện một cách rõ ràng trong luật, quy định hoặc tài liệu chính thức khác, để có thể nhận biết được. (c) Cho dù bề ngoài không mang tính riêng biệt do kết qủa của việc áp dụng các nguyên tắc nêu tại điểm (a) và (b), nhưng nếu có lý do để tin rằng, trợ cấp đó trên thực tế mang tính riêng biệt, thì có thể xem xét đến các yếu tố khác. Các yếu tố đó là: chỉ một số lượng có hạn các doanh nghiệp được hưởng trợ cấp trợ cấp nhiều hơn cho một số doanh nghiệp nhất định, cấp số tiền trợ cấp chênh lệch lớn cho một số doanh nghiệp nhất định và việc này được cơ quan có thẩm quyền thực hiện một cách tuỳ tiện khi quyết định trợ cấp[3]. Khi áp dụng điểm này, cần tính đến mức độ của việc đa dạng hoá các hoạt động kinh tế trong phạm vi quyền hạn của cơ 2 quan có thẩm quyền cấp trợ cấp, cũng như cần tính tới khoảng thời gian hoạt động của chương trình trợ cấp.

2 Trợ cấp áp dụng hạn chế đối với các doanh nghiệp nhất định hoạt động tại một vùng địa lý xác định thuộc quyền hạn của cơ quan có thẩm quyền cấp trợ cấp phải được coi là mang tính riêng biệt. Việc chính quyền ở tất cả các cấp quy định hay thay đổi thuế suất áp dụng chung không được coi là trợ cấp riêng biệt theo Hiệp định này. 3 Bất kỳ trợ cấp nào thuộc phạm vi điều chỉnh của Điều 3 sẽ được coi là trợ cấp riêng. 4 Việc xác định tính riêng biệt của trợ cấp theo các quy định của Điều này phải được chứng minh rõ ràng trên cơ sở bằng chứng thực tế.

PHẦN II: TRỢ CẤP BỊ CẤM Điều 3 Những quy định cấm 3.1 Trừ khi có quy định khác tại Hiệp định nông nghiệp, các khoản trợ cấp sau đây theo định nghĩa tại Điều 1 sẽ bị cấm: (a) quy định khối lượng trợ cấp, theo luật hay trong thực tế[4], dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, căn cứ vào kết quả thực hiện xuất khẩu, kể cả những khoản trợ cấp minh hoạ tại Phụ lục I[5]; (b) quy định khối lượng trợ cấp, dù là một điều kiện riêng biệt hay kèm theo những điều kiện khác, ưu tiên sử dụng hàng nội địa hơn hàng ngoại.2 Mỗi Thành viên sẽ không cấp hay duy trì những khoản trợ cấp nêu tại khoản 1. Điều 4 Các chế tài 4. 1 Mỗi khi một Thành viên có lý do để tin rằng một khoản trợ cấp bị cấm đang được một Thành viên khác áp dụng hay duy trì, thì Thành viên đó có thể yêu cầu được tham vấn với Thành viên kia. 2 Yêu cầu tham vấn nêu tại khoản 1 phải kèm theo một bản trình bày chứng cứ hiện có về sự tồn tại và tính chất của trợ cấp nói trên.

3 Khi có yêu cầu tham vấn theo quy định tại khoản 1, Thành viên bị coi là đang áp dụng hay duy trì trợ cấp bị cấm sẽ tiến hành tham vấn trong thời gian sớm nhất có thể được. Mục tiêu tham vấn là nhằm làm rõ sự thật tình và đi đến một thoả thuận chung giữa các bên. 4 Nếu trong vòng 30 ngày[6] kể từ ngày có yêu cầu tham vấn mà không đạt được một giải pháp được các bên chấp nhận, thì bất kỳ Thành viên nào tham gia tham vấn cũng có thể đưa vấn đề ra Cơ quan giải quyết tranh chấp (DSB "DSB") để ngay lập tức thành lập một ban hội thẩm, trừ khi DSB nhất trí quyết định không thành lập ban hội thẩm để giải quyết vấn đề đó. 5 Ngay khi được thành lập, ban hội thẩm có thể yêu cầu sự trợ giúp của Nhóm Chuyên gia thường trực [7] ( theo Hiệp định gọi tắt là "PGE") để đánh giá xem biện pháp đang được nêu ra có phải là trợ cấp bị cấm không.

Nếu được yêu cầu, PGE sẽ tiến hành xem xét ngay các chứng cứ về sự tồn tại và tính chất của biện pháp được nêu ra và sẽ tạo cơ hội để Thành viên đang áp dụng hay duy trì biện pháp đó chứng minh rằng biện pháp đó không phải là trợ cấp bị cấm. Trong thời hạn do ban hội thẩm quy định, PGE sẽ báo cáo kết luận lên ban hội thẩm. Kết luận của PGE về việc biện pháp được nêu ra có phải là trợ cấp cấm hay không sẽ được ban hội thẩm chấp nhận mà không được phép sửa đổi 4. 6 Ban hội thẩm sẽ nộp báo cáo cuối cùng cho các bên tranh chấp.

Báo cáo sẽ được gửi cho các Thành viên trong vòng 90 ngày, kể từ ngày ban hội thẩm được thành lập và các điều khoản tham chiếu được chấp nhận 4. 7 Nếu biện pháp nêu ra được xác định là trợ cấp bị cấm, ban hội thẩm sẽ khuyến nghị Thành viên đang duy trì trợ cấp bỏ ngay trợ cấp đó. Ban hội thẩm sẽ nêu rõ trong khuyến nghị thời hạn để bỏ biện pháp đó. 8 Trong vòng 30 ngày kể từ khi ban hội thẩm gửi báo cáo cho tất cả các Thành viên, DSB sẽ thông qua báo cáo, trừ khi một bên tranh chấp thông báo chính thức 4 với DSB về quyết định kháng cáo của mình hoặc DSB nhất trí quyết định không thông qua bản báo cáo đó.

Khi báo cáo của ban hội thẩm bị kháng cáo, Cơ quan Phúc thẩm sẽ có quyết định trong vòng 30 ngày kể từ khi bên tranh chấp chính thức thông báo ý định kháng cáo. Khi Cơ quan Phúc thẩm thấy rằng không thể có được báo cáo trong vòng 30 ngày, Cơ quan đó sẽ thông báo bằng văn bản cho DSB về lý do chậm trễ cùng với thời gian dự kiến sẽ nộp báo cáo. Trong mọi trường hơp, thời hạn giải quyết kháng cáo không được quá 60 ngày. Báo cáo phúc thẩm sẽ được DSB thông qua và các bên liên quan chấp nhận một cách vô điều kiện trừ khi, trong vòng 20 ngày kể từ ngày gửi báo cáo tới các Thành viên[8], DSB nhất trí quyết định không thông qua báo cáo phúc thẩm.

Trong trường hợp khuyến nghị của DSB không được thực thi trong thời hạn được ban hội thẩm đề ra, tính từ ngày thông qua báo cáo của ban hội thẩm hoặc báo cáo của Cơ quan Phúc thẩm, DSB sẽ cho phép Thành viên có khiếu nại áp dụng biện pháp đối kháng phù hợp[9] trừ khi DSB nhất trí quyết định từ chối yêu cầu được áp dụng biện pháp đó. Trong trường hợp một bên tranh chấp yêu cầu trọng tài theo khoản 6 Điều 22 của Thoả thuận về giải quyết tranh chấp (DSU), thì trọng tài viên sẽ xác định xem biện pháp đối kháng có thích hợp hay không[10]. Để giải quyết các tranh chấp theo Điều này, ngoại trừ những thời hạn được quy định cụ thể tại Điều này, thời hạn quy định để giải quyết các tranh chấp đó sẽ chỉ bằng một nửa thời hạn quy định trong DSU. PHẦN III: TRỢ CẤP CÓ THỂ ĐỐI KHÁNG Điều 5 Tác động nghịch Không một Thành viên nào thông qua việc sử dụng bất kỳ trợ cấp nào nêu tại khoản 1 và 2 của Điều 1 để gây ra tác động có hại đến quyền lợi của Thành viên khác, cụ thể như: 5 (a) gây tổn hại cho một ngành sản xuất của một Thành viên khác[11]; (b) làm vô hiệu hay gây phương hại đến những quyền lợi mà Thành viên khác trực tiếp hoặc gián tiếp được hưởng từ Hiệp định GATT 1994, đặc biệt là những quyền lợi có được từ những nhân nhượng đã cam kết theo Điều 2 của Hiệp định GATT 1994[12]; (c) gây tổn hại nghiêm trọng tới quyền lợi của một Thành viên khác[13].

Điều này không áp dụng với những trợ cấp được áp dụng với nông sản quy định tại Điều 12 Hiệp định nông nghiệp. Điều 6 Tổn hại nghiêm trọng 6.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Hiệp định trợ cấp và biện pháp đối kháng WTO: Hướng dẫn chi tiết" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định và cơ chế liên quan đến trợ cấp và biện pháp đối kháng trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tài liệu này không chỉ giải thích các khái niệm cơ bản mà còn phân tích các quy trình và tiêu chuẩn mà các quốc gia thành viên cần tuân thủ. Đặc biệt, nó giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức các biện pháp này có thể ảnh hưởng đến thương mại quốc tế và quyền lợi của các quốc gia, từ đó đưa ra những chiến lược phù hợp để bảo vệ lợi ích thương mại của mình.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến thương mại quốc tế, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Báo cáo của ban công tác về việc việt nam gia nhập wto và các biểu cam kết của việt nam", nơi cung cấp thông tin chi tiết về cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO. Ngoài ra, tài liệu "Luận văn cơ hội và thách thức đối với việc xuất khẩu hàng nông sản của việt nam sang thị trường liên minh châu âu eu giai đoạn 2020 2025" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội trong xuất khẩu nông sản, một lĩnh vực quan trọng trong thương mại quốc tế. Cuối cùng, tài liệu "Luận văn thực trạng xuất khẩu thủy sản của việt nam sang eu trong những năm qua" sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình xuất khẩu thủy sản, một ngành hàng chiến lược của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn nắm bắt thông tin mà còn mở ra cơ hội để tìm hiểu sâu hơn về các khía cạnh khác nhau của thương mại quốc tế.