Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Quản lý Khoa học và Công nghệ (mã số thí điểm) với đề tài "Hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống khoa học và công nghệ Việt Nam" do nghiên cứu sinh Đinh Việt Bách thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (2018), dưới sự hướng dẫn của TS. Trần Quốc Khánh và TS. Hồ Ngọc Luật.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Khoa học và công nghệ (KH&CN) đóng vai trò then chốt đối với năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia và dự báo chính sách phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, hoạt động KH&CN tại Việt Nam chưa phát triển tương xứng với tiềm năng và nguồn lực đầu tư. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ việc thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN chưa phù hợp với đặc thù sáng tạo và khách quan của nghiên cứu khoa học. Cơ quan quản lý nhà nước vừa ban hành chính sách vừa trực tiếp thực hiện nghiên cứu (tình trạng "vừa đá bóng vừa thổi còi"), dẫn đến cơ chế phân bổ kinh phí bao cấp, bất bình đẳng trong giao nhiệm vụ, và quản lý nhân lực, tổ chức KH&CN công lập rập khuôn theo mô hình hành chính sự nghiệp. Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định là sự thiếu vắng một nghiên cứu hệ thống, toàn diện nhằm làm rõ triết lý thiết chế tự chủ, định vị lại vai trò của Nhà nước và đề xuất các giải pháp đồng bộ để chuyển đổi hệ thống KH&CN theo hướng tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Chỉ ra các giải pháp để hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận về chủ thể của hoạt động KH&CN, triết lý của thiết chế tự chủ, vai trò của Nhà nước và mối quan hệ của thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN.
- Phân tích, đánh giá thực trạng triển khai và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện thiết chế tự chủ tại Việt Nam.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
- Câu hỏi chính: Điều kiện nào để hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam?
- Câu hỏi phụ: Các giải pháp cụ thể để hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam là gì?
Giả thuyết nghiên cứu
- Giả thuyết chính: Điều kiện để hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam là các chủ thể hoạt động KH&CN được quyền chủ động trong đề xuất và thực hiện nhiệm vụ KH&CN dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.
- Giả thuyết phụ: Hệ thống 07 giải pháp cụ thể bao gồm:
- Nhà nước không trực tiếp thực hiện hoạt động KH&CN, chỉ thực hiện vai trò quản lý nhà nước đối với hoạt động KH&CN (giải pháp giữ vai trò chủ đạo, có ý nghĩa quyết định).
- Nhiệm vụ KH&CN do chủ thể hoạt động KH&CN chủ động đề xuất và tổ chức thực hiện; Nhà nước xem xét tài trợ kinh phí.
- Chủ thể hoạt động KH&CN được quyền tự chủ trong quản lý, sử dụng tài chính từ mọi nguồn tài trợ.
- Mạng lưới tổ chức KH&CN công lập được tái cấu trúc tinh gọn, giảm đầu mối và không bị quản lý như đơn vị sự nghiệp công lập.
- Nhân lực KH&CN trong tổ chức KH&CN công lập không bị quản lý như công chức, viên chức nhà nước và được quyền tự chủ trong chuyên môn.
- KH&CN gắn kết chặt chẽ với sản xuất và đào tạo.
- Nền kinh tế vận hành theo đúng quy luật thị trường, phát triển thị trường công nghệ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam (bao gồm hoạt động KH&CN, chủ thể hoạt động, chính sách quản lý và cơ quan quản lý nhà nước về KH&CN).
- Phạm vi không gian: Hệ thống KH&CN Việt Nam và nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế tại một số quốc gia (Đức, Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, Thụy Điển, Thái Lan).
- Phạm vi thời gian: Phân tích thực tiễn Việt Nam từ những năm 1980 của thế kỷ XX, tập trung giai đoạn từ 2005 đến 2016-2018; dữ liệu kinh nghiệm quốc tế được khảo cứu từ những năm 1930 đến nay.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 07 nhóm nội dung trọng tâm:
- Về tự chủ trong hoạt động KH&CN: Robert K. Merton (1938) nghiên cứu về tính độc lập của khoa học trước tư tưởng nhà nước; Michael Polanyi (1981) phản đối mô hình nghiên cứu kế hoạch hóa tập trung, khẳng định tự do học thuật là điều kiện để tìm kiếm chân lý; Sheldon Krimsky nhấn mạnh quyền tự chủ không bị chi phối bởi các nhà tài trợ; David B. Resnik (2009) phân tích giới hạn kiểm soát của chính phủ đối với nghiên cứu; Alfredo Marcos khẳng định tự chủ là đặc tính nguyên bản của hoạt động khoa học.
- Về vai trò của Nhà nước: Vũ Cao Đàm (2001, 2002, 2009b) phân tích sự can thiệp hành chính vào KH&CN ở thập niên 1970-1980 và các mốc chính sách như Quyết định số 175-CP (1981) về hợp đồng kinh tế trong khoa học kỹ thuật, Quyết định số 134/HĐBT (1987) về khuyến khích liên kết tự nguyện và chấp nhận giá thỏa thuận; Hoàng Xuân Long (2007) và Đỗ Mạnh Thường (2010) đề xuất chuyển từ giao kế hoạch pháp lệnh sang quản lý vĩ mô theo cơ chế đặt hàng, bảo vệ lợi ích công cộng và an ninh quốc gia.
- Về xác định nhiệm vụ KH&CN: Đào Tiến Khoa (2007) phân tích mô hình quỹ tài trợ nghiên cứu cơ bản JSPS của Nhật Bản; Dương Quỳnh Hoa (2009) khảo cứu quyền tự chủ xác định nhiệm vụ của Trung Quốc; Nguyễn Vũ Hảo (2012) phân tích quyền tự do nghiên cứu theo Điều 5 Luật Cơ bản của Cộng hòa Liên bang Đức; Đoàn Năng (2013) làm rõ quy trình sàng lọc và đề xuất nhiệm vụ đặt hàng theo cấp quản lý tại Việt Nam.
- Về quản lý tổ chức KH&CN: Ping Lin (2002) phân tích quá trình chuyển đổi sở hữu viện nghiên cứu tại Trung Quốc; OECD (2011) nêu kinh nghiệm sáp nhập, giải thể tổ chức nghiên cứu tại Nga; Nguyễn Văn Học và Hoàng Văn Tuyên (2004b) đưa ra 06 phương án chuyển đổi viện nghiên cứu công lập Việt Nam; Hoàng Xuân Long (2008) và Đào Tiến Khoa (2007) nghiên cứu việc chuyển đổi các tổ chức nghiên cứu và trường đại học sang cơ chế vận hành như doanh nghiệp.
- Về quản lý nhân lực KH&CN: Kenneth L. Simons (2009) khảo cứu việc bãi bỏ ngạch viên chức nhà nước cho nhân lực khoa học tại Nga; Phạm Huy Tiến (2003) đề xuất chuyển từ chế độ "Nhà nước dùng người" sang "tổ chức dùng người"; Hoàng Xuân Long (2004) dẫn chứng việc công chức nghiên cứu tại Thái Lan chuyển sang hợp đồng lao động; Lê Trọng Ân và Trương Văn Tuấn (2014) dẫn số liệu chính sách thu hút chuyên gia tại Mỹ (52% nhân lực KH&CN là người gốc nước ngoài) và Trung Quốc; Hồ Ngọc Luật (2012) chỉ ra sự mất cân đối nhân lực trình độ cao tại Việt Nam (90% tiến sĩ tập trung ở Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ; riêng Hà Nội và TP.HCM chiếm 83%).
- Về tài chính trong hoạt động KH&CN: Hồ Ngọc Luật (2007), Nguyễn Trường Giang (2013) và Nguyễn Quốc Anh (2015) chỉ ra cơ cấu phân bổ dàn trải, nặng tính hành chính; Nguyễn Quân (2008) so sánh tổng chi KH&CN của Việt Nam chỉ đạt khoảng 0,6% GDP (ngân sách nhà nước chiếm 60-70%, xã hội chiếm 30-40%), trái ngược với các quốc gia phát triển như Nhật Bản (3,15% GDP), Mỹ (2,95% GDP), Hàn Quốc (gần 5% GDP) nơi doanh nghiệp đóng góp đến 70% tổng chi.
- Về gắn kết nghiên cứu với sản xuất và đào tạo: Phan Công Nghĩa (2005), Nguyễn Phúc Khanh (2008), Phạm Thúy Hương cùng cộng sự (2011) chỉ ra sự chia cắt giữa trường đại học và viện nghiên cứu; Dương Quỳnh Hoa (2009) dẫn chứng tổng chi R&D của Đức đạt 2,8% GDP (92 tỷ USD năm 2013, doanh nghiệp đóng góp 60%); Trần Nguyễn Tuyên (2010) phân tích mô hình liên kết hữu cơ giữa đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp tại Thụy Điển.
Khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận từng góc độ riêng lẻ (tài chính, nhân sự, tổ chức hoặc chuyển giao công nghệ). Luận án giải quyết khoảng trống học thuật bằng cách tiếp cận tổng thể hệ thống đổi mới quốc gia, chỉ ra bản chất triết lý thiết chế tự chủ và khẳng định luận điểm: Nhà nước không phải là chủ thể trực tiếp thực hiện nghiên cứu mà chỉ giữ vai trò kiến tạo và quản lý vĩ mô.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Hệ khái niệm và khung phân tích
- Thiết chế: Luận án tổng hợp quan điểm của J. Fichter, Anthony Giddens, Vũ Cao Đàm và Viện Ngôn ngữ học để định nghĩa thiết chế là hệ thống các chuẩn mực, giá trị, luật lệ và khuôn mẫu quan hệ xã hội ổn định nhằm thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của xã hội.
- Tự chủ trong KH&CN: Là quyền của các chủ thể KH&CN trong việc tự điều hành, xác định hướng nghiên cứu, đề xuất và tổ chức thực hiện nhiệm vụ, định đoạt tài chính, nhân sự, tổ chức, hợp tác quốc tế và sở hữu kết quả nghiên cứu trong khuôn khổ pháp luật.
- Hệ thống đổi mới quốc gia (NIS): Dựa trên lý thuyết của Christopher Freeman (1988), Bengt-Åke Lundvall (1992), Richard Nelson (1993), OECD (1999) và Nguyễn Mạnh Quân (2006, 2008). Khung phân tích mở rộng từ hệ thống KH&CN thuần túy sang NIS, coi doanh nghiệp là trung tâm của đổi mới, chuyển từ mô hình tuyến tính "KH&CN đẩy" (Science push) sang mô hình phi tuyến tính "Thị trường kéo" (Market pull) và mạng lưới tương tác đa chiều.
- Bốn mô hình triết lý quan hệ giữa Nhà nước và KH&CN:
- Nhà nước không quan tâm đến KH&CN.
- Nhà nước độc quyền là chủ thể hoạt động KH&CN (mô hình kế hoạch hóa tập trung).
- Nhà nước và các thành phần kinh tế đều là chủ thể hoạt động KH&CN (mô hình quá độ).
- Nhà nước không phải là chủ thể hoạt động KH&CN, chỉ thực hiện chức năng quản lý vĩ mô và tài trợ (mô hình kinh tế thị trường phát triển).
Mô hình chuyển đổi tiếp cận hoạt động KH&CN:
[Mô hình Tuyến tính / Đẩy] : Nghiên cứu cơ bản -> Nghiên cứu ứng dụng -> Triển khai -> Sản xuất
[Mô hình Đổi mới Quốc gia]: Thị trường/Xã hội <-> Doanh nghiệp (Trung tâm) <-> Viện/Trường <-> Nhà nước (Kiến tạo/Tài trợ)
Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích các chủ trương, văn bản quy phạm pháp luật (giai đoạn 1980 - 2013/2016) và dữ liệu thứ cấp từ Tổng cục Thống kê, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, UNESCO, OECD.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (khảo sát thực tế):
- Quy mô khảo sát: Phát phiếu tới 640 tổ chức KH&CN công lập thuộc 22 Bộ, ngành và 63 tỉnh/thành phố.
- Mẫu thu hồi: 441 phiếu hợp lệ, gồm 15 chỉ tiêu phản ánh nhân lực, tài chính, nhiệm vụ nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, xuất bản bài báo/sách, sáng chế/giải pháp hữu ích, đào tạo sau đại học.
- Cơ cấu mẫu khảo sát: Phân chia theo 05 lĩnh vực chuyên môn (Khoa học tự nhiên, Kỹ thuật và công nghệ, Y dược, Nông nghiệp, Xã hội và nhân văn) và theo cấp quản lý.
- Công cụ xử lý dữ liệu: Phần mềm Microsoft Office Excel 2007.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện ghi âm phỏng vấn sâu 15 chuyên gia vào năm 2016 (gồm các nhà quản lý nhà nước về KH&CN, nhà khoa học thuộc các viện nghiên cứu chuyên ngành và giảng viên đại học).
- Phương pháp tọa đàm khoa học: Tổ chức lấy ý kiến chuyên gia từ Khoa Khoa học Quản lý (ĐHKHXH&NV), Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, các Vụ chức năng của Bộ KH&CN và Viện Chiến lược và Chính sách KH&CN (NISTPASS).
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic: Đánh giá tiến trình chuyển biến của các văn bản pháp luật và phân tích quan hệ biện chứng giữa các thành tố trong hệ thống KH&CN.
| Phân loại tổ chức khảo sát |
Số lượng phiếu hợp lệ |
| Trực thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Tập đoàn/Tổng công ty nhà nước |
222 |
| Trực thuộc Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương |
151 |
| Trực thuộc các trường đại học |
68 |
| Tổng số phiếu hợp lệ |
441 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến thiết chế tự chủ trong hệ thống khoa học và công nghệ
Chương này hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế và trong nước về tự chủ KH&CN, phân tích vai trò của Nhà nước, cơ chế xác định nhiệm vụ, mô hình quản lý tổ chức và nhân lực, phương thức đầu tư tài chính và mối liên kết nghiên cứu - sản xuất - đào tạo. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây đã tạo nền tảng lý luận ban đầu nhưng còn mang tính phân mảnh, thiếu một khung tiếp cận toàn diện theo hệ thống đổi mới quốc gia để giải quyết tận gốc các rào cản thể chế tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý luận của thiết chế tự chủ trong hệ thống khoa học và công nghệ
Tác giả xây dựng hệ khái niệm công cụ chuẩn xác về thiết chế, tự chủ, hệ thống, hệ thống KH&CN và hệ thống đổi mới quốc gia. Chương 2 luận giải 05 nội dung cấu thành quyền tự chủ trong KH&CN: thực hiện nhiệm vụ, tài chính, tổ chức, nhân sự và hợp tác quốc tế. Tác giả phân tích 04 mô hình triết lý về quan hệ giữa Nhà nước và hoạt động KH&CN, khẳng định mô hình tiến bộ nhất là Nhà nước không đóng vai trò chủ thể trực tiếp nghiên cứu. Đồng thời, chương này phân tích sự dịch chuyển từ mô hình tuyến tính (KH&CN đẩy) sang mô hình phi tuyến tính (thị trường kéo) và mô hình hệ thống đổi mới quốc gia tại các nước công nghiệp mới (NICs) châu Á.
Chương 3: Thực trạng triển khai thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam
Chương 3 phân tích bối cảnh chuyển đổi kinh tế và rà soát hệ thống pháp lý qua 04 thời kỳ: 1980-1992, 1992-2004, 2004-2013 và từ 2013 đến thời điểm nghiên cứu. Dựa trên dữ liệu khảo sát 441 tổ chức và số liệu thứ cấp, tác giả đánh giá thực trạng trên các mặt:
- Tài chính: Ngân sách nhà nước chiếm 60-70% tổng chi KH&CN nhưng bị phân tán, cơ chế thanh quyết toán hành chính rườm rà.
- Tổ chức: Mạng lưới tổ chức công lập cồng kềnh, tính đến 31/5/2016 có trên 3.000 tổ chức, phần lớn hoạt động theo quy chế đơn vị sự nghiệp công lập bao cấp, cơ sở vật chất lạc hậu.
- Nhân lực: Quản lý theo ngạch công chức, viên chức cứng nhắc, phân bố mất cân đối nghiêm trọng giữa các vùng miền.
- Xác định nhiệm vụ: Quy trình đề xuất - xét chọn - giao nhiệm vụ qua nhiều khâu trung gian, thiếu gắn kết với nhu cầu thị trường doanh nghiệp.
| Tiêu chí so sánh (Dữ liệu tổng hợp từ Chương 3) |
Việt Nam |
Các nước phát triển / Khu vực |
| Tỷ lệ tổng đầu tư cho KH&CN / GDP |
~ 0,6% |
EU: 1,95%; Mỹ: 2,95%; Nhật Bản: 3,15%; Hàn Quốc: ~ 5,0% |
| Tỷ trọng đầu tư từ Ngân sách nhà nước |
60% - 70% |
~ 30% - 40% |
| Tỷ trọng đầu tư từ Doanh nghiệp / Xã hội |
30% - 40% |
~ 60% - 70% |
| Tập trung nhân lực trình độ Tiến sĩ |
83% tại Hà Nội & TP.HCM |
Phân bố theo mạng lưới viện/trường/doanh nghiệp linh hoạt |
Chương 4: Giải pháp hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam
Dựa trên xu hướng hội nhập và xác định điều kiện cần (các chủ thể được chủ động đề xuất và thực hiện nhiệm vụ dưới sự quản lý vĩ mô của Nhà nước), tác giả luận chứng 07 nhóm giải pháp:
- Nhà nước chuyển hẳn sang thực hiện chức năng quản lý vĩ mô, xây dựng hành lang pháp lý, không trực tiếp làm nghiên cứu.
- Đổi mới cơ chế xác định nhiệm vụ: Doanh nghiệp và chủ thể nghiên cứu chủ động đề xuất xuất phát từ thị trường; Nhà nước tài trợ qua quỹ KH&CN cạnh tranh.
- Trao quyền tự chủ tài chính toàn diện: Áp dụng cơ chế khoán chi đến sản phẩm cuối cùng, không áp dụng hóa đơn chứng từ hành chính sự nghiệp.
- Tái cấu trúc mạng lưới tổ chức KH&CN công lập: Sáp nhập, cổ phần hóa, chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp hoặc sáp nhập vào trường đại học; Nhà nước chỉ duy trì các tổ chức phục vụ mục tiêu công ích, an ninh, quốc phòng.
- Đổi mới căn bản quản lý nhân lực: Chuyển hoàn toàn sang chế độ hợp đồng lao động theo vị trí việc làm, xóa bỏ biên chế viên chức suốt đời trong tổ chức nghiên cứu.
- Thúc đẩy liên kết ba nhà (Nhà nước - Viện/Trường - Doanh nghiệp), chuyển giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách cho cơ quan chủ trì để thương mại hóa.
- Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, phát triển thị trường công nghệ thông qua các chính sách khuyến khích cạnh tranh và ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư R&D.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án ứng dụng thành công cách tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia để xây dựng cơ sở lý luận về thiết chế tự chủ trong KH&CN, chứng minh hoạt động nghiên cứu chỉ hoàn tất khi tạo ra sản phẩm/dịch vụ được thị trường chấp nhận.
- Làm rõ và xác lập luận điểm khoa học: Nhà nước không phải là chủ thể trực tiếp của hoạt động KH&CN; nhiệm vụ KH&CN không thể xuất phát từ ý chí chủ quan hay mệnh lệnh hành chính của cơ quan quản lý.
- Hệ thống hóa 04 mô hình triết lý về quan hệ giữa Nhà nước và KH&CN, cung cấp khung phân tích cho quản lý KH&CN thời kỳ chuyển đổi.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bức tranh thực trạng toàn diện với dữ liệu định lượng từ khảo sát thực tế 441 tổ chức KH&CN công lập và 15 phỏng vấn sâu chuyên gia.
- Chỉ rõ các nút thắt thể chế khiến cơ chế tự chủ theo Nghị định số 115/2005/NĐ-CP và các văn bản liên quan chưa phát huy hiệu quả trong thực tế.
- Đề xuất hệ thống 07 giải pháp đồng bộ mang tính thực tiễn cao, đóng vai trò là luận cứ tham khảo phục vụ xây dựng và sửa đổi Luật KH&CN, quy hoạch mạng lưới tổ chức KH&CN công lập và đổi mới cơ chế tài chính sự nghiệp khoa học tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án:
- Mẫu khảo sát định lượng chủ yếu tập trung vào nhóm tổ chức KH&CN công lập thuộc các Bộ, ngành, địa phương và trường đại học; tỷ trọng khảo sát tại khu vực doanh nghiệp tư nhân và các tổ chức KH&CN ngoài công lập còn khiêm tốn.
- Các dữ liệu điều tra thực tế phản ánh thực trạng tại thời điểm khảo sát năm 2016; một số chính sách mới ban hành gần thời điểm bảo vệ chưa có đủ thời gian kiểm chứng thực tiễn sâu rộng.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng đối tượng nghiên cứu sang khu vực doanh nghiệp và các tổ chức KH&CN có vốn đầu tư nước ngoài trong hệ thống đổi mới quốc gia.
- Nghiên cứu cụ thể hóa cơ chế định giá tài sản trí tuệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước trong bối cảnh sửa đổi Luật Quản lý, sử dụng tài sản công.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Luận án là tài liệu tham khảo giá trị cho Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính và các cơ quan tham mưu trong việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật về đổi mới cơ chế tự chủ, tái cơ cấu mạng lưới viện nghiên cứu công lập và đổi mới phương thức cấp phát tài chính.
- Đối với các tổ chức KH&CN và trường đại học: Cung cấp luận cứ và mô hình tổ chức thực tiễn để lãnh đạo các viện nghiên cứu, trường đại học tái cấu trúc bộ máy, chuyển đổi mô hình quản trị nhân lực sang chế độ hợp đồng và xây dựng cơ chế tự chủ học thuật gắn với thị trường.
- Đối với nghiên cứu sinh, giảng viên và học viên: Là tài liệu học thuật hữu ích trong các chuyên ngành Quản lý KH&CN, Khoa học Quản lý, Quản trị Đổi mới sáng tạo và Chính sách công; đặc biệt là phương pháp luận áp dụng lý thuyết NIS vào phân tích chính sách tại các nền kinh tế chuyển đổi.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu khảo sát thực nghiệm của luận án được thực hiện với quy mô và cơ cấu như thế nào?
Tác giả đã phát phiếu khảo sát tới trên 640 tổ chức KH&CN công lập thuộc 22 Bộ, ngành và 63 địa phương, thu về 441 phiếu hợp lệ với 15 chỉ tiêu. Mẫu gồm: 222 tổ chức thuộc các Bộ, ngành, cơ quan thuộc Chính phủ và Tổng công ty/Tập đoàn nhà nước; 151 tổ chức thuộc UBND các tỉnh/thành phố; 68 tổ chức thuộc các trường đại học. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft Office Excel 2007, kết hợp 15 cuộc phỏng vấn sâu chuyên gia năm 2016.
2. Luận án đưa ra quan điểm cốt lõi nào về vai trò của Nhà nước đối với KH&CN?
Luận án khẳng định Nhà nước không phải là chủ thể của hoạt động KH&CN và không trực tiếp thực hiện nghiên cứu. Nhà nước chỉ thực hiện vai trò quản lý vĩ mô: ban hành chính sách, tạo lập hành lang pháp lý, quy hoạch định hướng các lĩnh vực trọng điểm và tài trợ kinh phí qua các quỹ nghiên cứu cạnh tranh đối với các lĩnh vực công ích hoặc rủi ro cao mà khu vực tư nhân không đầu tư.
3. Vì sao phương thức đề xuất và giao nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách trước đây bị đánh giá là bất cập?
Quy trình cũ yêu cầu các nhà khoa học gửi đề xuất lên các Bộ/ngành, địa phương để tổng hợp thành danh mục đặt hàng, sau đó tổ chức tuyển chọn. Quy trình này mang tính hành chính, kéo dài, làm mất tính cấp thiết của nghiên cứu. Đáng chú ý, cá nhân/tổ chức có sáng kiến đề xuất nhiệm vụ lại có thể bị trượt khi hội đồng xét chọn giao cho đơn vị khác, dẫn đến triệt tiêu động lực đề xuất ý tưởng mới.
4. Giải pháp về quản lý nhân lực KH&CN công lập được luận án đề xuất cụ thể ra sao?
Luận án đề xuất xóa bỏ cơ chế quản lý nhân lực khoa học theo ngạch công chức, viên chức nhà nước suốt đời. Chuyển toàn bộ nhân lực nghiên cứu sang chế độ ký kết hợp đồng lao động theo vị trí việc làm và hiệu quả đầu ra; trao quyền tự chủ tuyệt đối cho tổ chức KH&CN trong tuyển dụng, bổ nhiệm, chi trả thu nhập xứng đáng và cho phép nhà khoa học linh hoạt kiêm nhiệm, luân chuyển giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Đinh Việt Bách đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề hiện thực hóa thiết chế tự chủ trong hệ thống KH&CN Việt Nam trên cơ sở tiếp cận hệ thống đổi mới quốc gia. Bằng việc phân tích thực trạng mạng lưới tổ chức, cơ chế tài chính và quản lý nhân lực qua dữ liệu khảo sát thực tế, luận án chứng minh tính cấp bách của việc chấm dứt tư duy bao cấp hành chính sự nghiệp trong hoạt động khoa học. Công trình đã đề xuất hệ thống 07 giải pháp đồng bộ nhằm trả lại quyền tự chủ thực chất cho các chủ thể nghiên cứu, định vị đúng vai trò kiến tạo của Nhà nước và thúc đẩy thị trường công nghệ phát triển bền vững.