Mở đầu Theo thống kê trên statista, thị trường toàn cầu của thực tế mở rộng đã đạt 14.7 tỉ đô vào năm 2020, và ước đạt gần 300 tỷ USD vào năm 2024. Trong đó, thị trường AR mới chỉ chiếm 4.2 tỉ đô vào năm 2020 nhưng được dự đoán sẽ sớm cán mốc 97.8 tỉ đô vào năm 2024, gấp hơn 23 lần chỉ sau 4 năm. Như vậy để thấy rằng, AR có tiềm năng phát triển rất lớn khi công nghệ đang đi vào từng ngõ ngách của cuộc sống [9]. Công nghệ AR trong truyền hình tại Việt Nam 1.
Thách thức của công nghệ AR trong truyền hình và tại Việt Nam Tại Việt Nam hiện nay, đa số người dùng đang sử dụng những thiết bị di động như điện thoại thông minh, máy tính bảng để xem các nền tảng video trực tuyến. Ngay cả những khán giả trung thành nhất cũng đang dần rời xa truyền hình truyền thống vì sự thiếu hấp dẫn của các chương trình truyền hình. Trong khi đó, với sự phát triển của khoa học công nghệ, các đài truyền hình nổi tiếng trên thế giới như NBC, BBC, hay CNN đã sớm ứng dụng công nghệ AR vào trong truyền hình từ năm 2008. Do đó, truyền hình tại Việt Nam cần nhanh chóng thay đổi, ứng dụng công nghệ, tăng tính hấp dẫn cho các chương trình nhằm giữ chân những khán giả trung thành và lôi kéo những khán giả mới, để mọi khán giả được trải nghiệm những sản phẩm truyền hình chất lượng, đa dạng về nội dung và hình thức thể hiện.
Hiện nay, có rất nhiều giải pháp AR đến từ các công ty công nghệ hàng đầu trên thế giới, tuy nhiên ứng dụng công nghệ AR trong truyền hình luôn có những thách thức khác biệt. Thứ nhất, hệ thống AR trong truyền hình phải đảm bảo những tiêu chuẩn về chất lượng hình ảnh. Hiện nay, đa số các đài truyền hình đang vận hành hệ thống theo tiêu chuẩn hình ảnh HD 1080i/1080p. Do đó, hệ thống AR phải hỗ trợ các tiêu chuẩn chất lượng hình ảnh phổ biến.
9 | Trang Thứ hai, hệ thống AR trong truyền hình phải đảm bảo tính thời gian thực. Do khung hình tối hiểu để mắt người xem có cảm giác mượt mà là 25 hình/s, đồ họa AR phải được kết xuất đồng bộ (trễ ≤ 5 hình) so với khung hình thực để khán giả không cảm thấy đồ họa AR đi sau nhân vật. Thứ ba, mặc dù có nhiều hãng trên thế giới cung cấp giải pháp AR ứng dụng trong truyền hình, tuy nhiên mỗi hãng lại có hệ thống phần cứng và phần mềm khác nhau, dẫn đến sơ đồ triển khai khác nhau và quy mô triển khai cũng rất khác nhau. Ngoài những thách thức đó, thực tế truyền hình tại Việt Nam cũng có thách thức riêng.
Lựa chọn giải pháp công nghệ như thế nào, triển khai thực tế ra sao để phù hợp với yêu cầu kỹ thuật hiện có, cân bằng nhu cầu sản xuất và tiềm lực tài chính luôn là bài toán đau đầu đối với mỗi trung tâm truyền hình. Mục tiêu cần đạt được của luận văn • Tìm hiểu tổng quan về công nghệ AR và ứng dụng của công nghệ AR. • Nghiên cứu trường quay ảo kết hợp công nghệ AR – xu hướng công nghệ truyền hình tại Việt Nam, tìm hiểu một số giải pháp AR ứng dụng trong truyền hình. • Đặt ra bài toán yêu cầu thiết kế, từ đó lựa chọn giải pháp AR phù hợp, xây dựng cấu hình và thiết lập sơ đồ hệ thống, triển khai thử nghiệm trong môi trường truyền hình thực tế, tối ưu hóa phần cứng của hệ thống về giá thành và chức năng, tiết kiệm chi phí.
• Đánh giá kết quả và định hướng nâng cấp. Công nghệ AR AR là công nghệ cho phép lồng ghép thông tin ảo vào thế giới thực. Công nghệ này coi thế giới thực là trung tâm nhưng tăng cường thêm các chi tiết ảo, chồng thêm các tầng nhận biết, bổ sung cho môi trường thực tế. Người dùng sẽ được trải nghiệm những yếu tố ảo, được nhìn, được cảm nhận, được tương tác ngay trong môi trường thật, giữa không gian thật.
Ngay cả những lãnh đạo tập đoàn lớn, 10 | Trang như Tim Cook – CEO tại Apple – cũng rất quan tâm đến AR. Ở buổi công bố lợi nhuận quý 1 năm 2020, ông cho biết: “Hiếm khi nào mà chúng ta phát triển được một loại công nghệ mới mà doanh nghiệp và người tiêu dùng đều đánh giá cao. Vì vậy, tôi cho rằng, AR sẽ sớm có mặt ở khắp mọi nơi trong cuộc sống” [10]. Nếu nói về một trường hợp đã áp dụng thành công AR vào ứng dụng di động, thì phải kể đến Pokemon GO.
Được phát triển bởi công ty phát triển phần mềm Niantic, Pokemon GO đã bổ sung AR để người dùng được trải nghiệm game một cách chân thực – người dùng có thể tìm và bắt Pokemon ngay trong thế giới thực. Game tương tác ảo Pokemon GO nhanh chóng trở thành hiện tượng toàn cầu và thu về 207 triệu USD chỉ trong tháng đầu tiên – cao hơn bất kỳ game nào khác trước đó. Sau ba tháng ra mắt, game trở nên phổ biến đến mức, tính trong nhóm 20 game Android đứng đầu, Pokemon GO chiếm đến 45% thời lượng người dùng bỏ ra để chơi game Android. Nhưng AR không chỉ hữu dụng cho mỗi game.
Instagram và Snapchat là hai ví dụ cho thấy AR hoàn toàn có thể áp dụng vào mạng xã hội để cải thiện trải nghiệm và tăng mức độ tương tác của người dùng. Cụ thể, Snapchat đã cho ra mắt “City Painter” vào năm 2020. Người dùng có thể phun sơn ảo lên các cửa hàng trên phố để tạo ra các mảng màu bắt mắt. Cùng năm, Snapchat đã giới thiệu thêm chức năng Local Lenses.
Sự khác biệt giữa AR và VR Một điều quan trọng cần lưu ý, đó là AR và VR không giống nhau. VR là công nghệ tạo ra một thế giới ảo, mà khi đi vào đó, người dùng có thể dùng các giác quan để cảm nhận được như thế giới thực, thậm chí có thể tương tác qua lại với thế giới ảo đó tạo ra một môi trường số. Mục tiêu là làm sao cho người dùng có thể trải nghiệm được “thế giới ảo” một cách “thật” nhất, làm cho người dùng hoà nhập hẳn vào thế giới ảo đó, và quên hết đi thế giới thực tế xung quanh mình. Còn với AR, bạn đưa những thứ ảo đưa vào thế giới thật, giúp người dùng nhìn thấy, cảm nhận thấy và tương tác được với các vật ảo đó tại thế giới thật.
Với mục tiêu làm sao cho những thứ ảo (được đưa vào thế giới thật) được trở nên thật nhất. Số lượng người dùng AR ước tăng 17% vào năm 2022. Chỉ tính riêng tại Mỹ, 11 | Trang hiện đã có đến 83,1 triệu người sử dụng AR hàng tháng [10]. AR phổ biến hơn VR vì cho phép truy cập ngay trên thiết bị mà gần như ai cũng đem theo hàng ngày.
Cơ chế hoạt động của hệ thống AR Monitor Thiết bị tương tác Additional Data Video Signal HDMI Tracking Data Video Signal Video Signal AR Server Sync Signal Studio Mixer Sync Signal Sync Generator Sync Signal Figure 1.1: Cơ chế hoạt động của hệ thống AR trong truyền hình Hệ thống AR được xây dựng bằng cách thực hiện bốn nhiệm vụ cơ bản và riêng biệt [11]. Capture: Thu thập hình ảnh, các camera sẽ ghi lại hình ảnh và chuyển thành dữ liệu số gửi về hệ thống AR. Identification: Hệ thống AR sẽ định vị dữ liệu thu thập được bao gồm hình ảnh và dữ liệu tracking so với dữ liệu tham chiếu (ví dụ: điểm đánh dấu AR). Processing: Hệ thống sẽ kích hoạt AR dựa trên các dữ liệu tracking.
Kết hợp với thiết bị tương tác, hệ thống xử lý dữ liệu sẽ đưa ra những thay đổi tương ứng. Dữ liệu sau đó được kết xuất thành hình ảnh. Visualization: Hiển thị trên các loại màn hình theo nhu cầu. 12 | Trang • Nguyên lý hoạt động [12] Figure 1.2: Quy trình xử lý dữ liệu của hệ thống AR [12] Đầu tiên, thiết bị ghi hình sẽ chụp một khung hình, dữ liệu hình ảnh sau đó được xử lý để chuyển sang dạng dữ liệu số.
Kết hợp với dữ liệu tracking, hệ thống sẽ định vị hình ảnh thu được so với đối tượng tham chiếu (ví dụ: điểm đánh dấu AR) trong thời gian thực. Các kỹ thuật tracking có thể được phân loại dựa trên: - Cảm biến: thiết bị đo quán tính, GPS, hồng ngoại, siêu âm. - Hình ảnh: sử dụng các điểm đánh dấu. Sau đó, hệ thống sẽ kích hoạt AR dựa trên: hình ảnh, vị trí GPS, điểm đánh dấu hoặc giá trị cảm biến từ gia tốc kế, con quay hồi chuyển, la bàn, máy đo độ cao hoặc cảm biến nhiệt.
Kết hợp với thiết bị xử lý tương tác, hệ thống quản lý dữ liệu sẽ đưa ra những thay đổi tương ứng. Dữ liệu sau đó được kết xuất thành dữ liệu hình ảnh và hiển thị trên các loại màn hình theo nhu cầu: - Màn hình cầm tay (HHD) như: máy tính bảng, điện thoại thông minh. - Màn hình gắn mũ (HMD) như: kính thông minh, mũ bảo hiểm thông minh. - Máy chiếu không gian.
Phân loại công nghệ AR 1. AR dựa trên điểm đánh dấu Trong trường hợp này, camera của thiết bị sẽ được sử dụng để nhận diện marker (ví dụ mã vạch) để cung cấp các thông tin liên quan đến đối tượng đang có trên màn hình. Để loại hình AR này hoạt động hiệu quả, hình ảnh do camera chụp được phải rõ ràng, có thể được đánh dấu bởi các điểm riêng biệt [13].3: Thực đơn nhà hàng được thiết kế bởi Oscar Falmer [13] Trên đây là thực đơn nhà hàng được thiết kế bởi Oscar Falmer. Sau khi nhận dạng menu, hệ thống AR sẽ định vị các điểm đánh dấu là hình ảnh những món ăn trên menu.
Sau đó, hệ thống sẽ hiển thị đồ họa 3D của món ăn đó kèm với đánh giá người dùng tương ứng bên cạnh menu thực. Người dùng thay vì chỉ nhìn thấy menu giấy, món ăn thì đơn giản, hình ảnh không rõ ràng, thì giờ sẽ thấy đồ ăn hiện ra rất trực quan và kèm theo đánh giá để lựa chọn. AR không dựa trên điểm đánh dấu Trong AR không dựa trên điểm đánh dấu lại được chia thành 4 nhóm nhỏ. Về bản chất thì bất kì một loại công nghệ AR nào đều phải dựa trên 1 thông tin tracking nào đó.
AR dựa trên vị trí Thông qua nguồn dữ liệu như gia tốc kế và chức năng theo dõi GPS, loại hình AR này có thể xác định vị trí và đo lường tốc độ. Thiết bị có thể hiển chỉ dẫn, giúp người dùng tìm kiếm địa điểm dễ dàng trong khu vực [13].