Chương 1: Khái quát về trường ĐH GTVT HN và hoạt động của Trung tâm TT – TV. Chương 2: Nhu cầu thông tin của CB – GV chuyên ngành GTVT và cấu trúc các nguồn tin thích ứng có tại Trung tâm TT – TV. Chương 3: Xây dựng hệ thông cung cấp thông tin chọn lọc đáp ứng nhu cầu thông tin của CB – GV trường ĐH GTVT HN Vũ Thị Hòa 10 K51 Thông tin – Thƣ viện Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ TRƢỜNG ĐH GTVT HN VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƢ VIỆN 1. Khái quát chung về trƣờng ĐH GTVT HN 1.
Sơ lƣợc lịch sử hình thành Tiền thân của trường ĐH GTVT HN là trường Cao đẳng giao thông – công chính, được khai giảng lại dưới chính quyền cách mạng vào ngày 15 tháng 11 năm 1945 theo Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Nghị định của Bộ giáo dục và Bộ giao thông - công chính. Trong giai đoạn 1945 đến 1960, Nhà trường đã đào tạo được nhiều cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ cao đẳng và trung cấp thuộc các lĩnh vực giao thông, thuỷ lợi, bưu điện, kiến trúc phục vụ công cuộc kháng chiến cứu quốc và khôi phục đất nước sau chiến tranh chống Pháp. Ngày 24 tháng 03 năm 1962, Trường được chính thức mang tên Trường Đại học Giao thông vận tải theo Quyết định số 42/CP của Hội đồng chính phủ. Ngày 27 tháng 04 năm 1990, cơ sở 2 của Trường tại Tp.
Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số 139/TCCB của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo. Trường Đại học GTVT là trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ mới trong lĩnh vực GTVT của cả nước. Trong 60 năm qua Trường đã đào tạo được trên 40.000 kỹ sư, trong đó có trên 200 kỹ sư cho hai nước bạn Lào và Campuchia; gần 1000 thạc sỹ và tiến sỹ, trong đó có 40 thạc sỹ cho nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào. Các công trình giao thông lớn của đất nước như đường 559, đường sắt thống nhất, cầu Thăng Long, cầu Mỹ Thuận, hầm Hài Vân, cầu Bãi cháy, các tuyến đường cao tốc,.
đều có sự tham gia của cán bộ, giảng viên và sinh viên của Trường. Đổi mới cùng đất nước, thực hiện các Nghị quyết của Đảng và Chính phủ, Nhà trường đã có những đổi mới to lớn và mạnh mẽ về đào tạo, NCPT, xây dựng đội ngũ, xây dựng cơ sở vật chất,. Phát huy truyền thống 60 năm qua, mục tiêu của Trường đến năm 2010 và những năm tiếp theo sẽ trở thành trường Đại học kỹ thuật và kinh tế đa ngành với chất Vũ Thị Hòa 11 K51 Thông tin – Thƣ viện Khóa luận tốt nghiệp lượng và trình độ cao, đầu ngành trong lĩnh vực GTVT của đất nước, là trung tâm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ lớn và có uy tín, từng bước hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới. Các khoa, viện trực thuộc trƣờng ĐH GTVT - Khoa công trình - Khoa điện – điện tử - Khoa cơ khí - Khoa kinh tế vận tải - Khoa cơ bản - Khoa công nghệ thông tin - Khoa lý luận chính trị - Khoa giáo dục quốc phòng - Khoa đại học tại chức - Viện khoa học và công nghệ xây dựng giao thông - Viện khoa học môi trường giao thông - Viện quy hoạch và quản lý GTVT - Trung tâm thông tin – thư viện 1.3 Số lƣợng CB – GV của Trƣờng ĐH GTVT - Tổng số cán bộ - giảng viên – công nhân viên: 1003 - Giảng viên: 726 - Khoa công trình: 217 giảng viên - Khoa cơ khí: 94 giảng viên - Khoa kinh tế vận tải: 84 giảng viên Vũ Thị Hòa 12 K51 Thông tin – Thƣ viện Khóa luận tốt nghiệp 1.
Tổng quan về hoạt động của Trung tâm Thông tin – Thƣ viện trƣờng ĐH GTVT HN 1. Lịch sử hình thành và phát triển của Trung tâm Trong nền văn minh nhân loại, thư viện (TV) đóng một vai trò vô cùng quan trọng. Với chức năng lưu giữ và truyền bá tri thức, ngay từ khi mới ra đời thư viện đã góp một phần không nhỏ vào quá trình phát triển nền văn minh nhân loại. Mặc dù khi mới thành lập, cơ sở vật chất của Nhà trường vô cùng đơn sơ, tài liệu (TL) giảng dạy chủ yếu là những tập giáo trình viết tay của các thầy cô, nhưng cũng chính từ đó là những ngày tháng sơ khai hình thành nên TV.
Khi mới thành lập TV chỉ là một bộ phận rất nhỏ trực thuộc phòng Giáo vụ, do một cán bộ TV vừa phụ trách các công việc của TV vừa phục vụ bạn đọc. Năm 1964, TV được bổ sung thêm một cán bộ nữa, và lúc này việc xử lý, bổ sung sách bắt đầu được tiến hành. Khung phân loại sử dụng trong TV là khung phân loại Trung tiểu hình Trung Quốc. Khi đó Nhà trường đã cho in sách roneo để phục vụ CB – GV và sinh viên, đồng thời bổ sung nhiều sách tiếng Nga từ những nguồn khác nhau, có lúc số sách tiếng Nga chiếm 90% tổng số sách TV.
Năm 1965 trước sự leo thang bắn phá ồ ạt của giặc Mỹ ra Miền Bắc, trường ĐHGTVT được lệnh sơ tán khỏi Hà Nội, TV cũng sơ tán theo trường. Trong thời gian sơ tán ở Hà Bắc (nay là Bắc Giang), nhà TV ở nơi sơ tán đã được dựng lên, giá sách làm bằng tre nứa. Năm 1965, các giáo trình từ Hà Nội được chuyển lên, ở khu sơ tán đã hình thành kho sách tham khảo, kho giáo trình và phòng mượn. Do số lượng sách hạn chế và các khoa của trường ở phân tán nên TV thường cho các lớp mượn sách để đọc, tổ chức các buổi tọa đàm trao đổi với sự có mặt của cán bộ TV, và luôn có sự luân chuyển sách cho sách được sử dụng tối đa.
Năm 1968, do nhu cầu phục vụ tăng, số lượng cán bộ của TV tăng thành 5 người. Năm 1967 theo chủ trương của Nhà nước, trường ĐH GTVT HN tách ra thành Đại học Giao thông sắt - bộ (ở Hà Nội) và Đại học Đường thuỷ (ở Hải Phòng). Do đó, nguồn tư liệu TV cũng được chia sẻ làm hai. Vũ Thị Hòa 13 K51 Thông tin – Thƣ viện Khóa luận tốt nghiệp Năm 1975 do lực lượng nhân viên tập trung, và để thuận tiện trong công tác TV, nhóm nghiệp vụ đã được hình thành.
Thời gian này, khung phân loại Trung tiểu hình Trung Quốc đã tỏ ra chật hẹp, không còn thích hợp với sự phát triển của TV, nên một số cán bộ đã được cử đi học về khung phân loại BBK để áp dụng cho TV. Nguồn TL TV cũng được phân chia thành các kho như: kho giáo trình, phòng đọc tạp chí cho CB – GV, và phòng mượn sách tham khảo. Năm 1984 là năm đánh dấu sự hình thành của TV như một đơn vị độc lập trực thuộc vào Ban Giám hiệu với 14 cán bộ công nhân viên. Ngày 21/02/2002, Trung tâm TT – TV được thành lập theo Quyết định số753/QĐ – BGD&ĐT – TCCB.
Những năm đầu thế kỷ XXI trường ĐH GTVT HN tham gia vào các dự án Giáo dục đại học (HEP), đầu tư phát triển TV theo hướng hiện đại. Dự án bao gồm các mức đầu tư cơ bản sau: mức A “Xây dựng hệ thống mạng máy tính để tăng cường công tác quản lý và đào tạo” (năm 2000). Dự án mức B (năm 2002) cho phép mở rộng mạng máy tính của trường sang ký túc xá Láng… Cùng với sự đầu tư về cơ sở vật chất kỹ thuật, giai đoạn này có một quyết định quan trọng trong công tác nghiệp vụ TV. Đó là Khung phân loại BBK của Nga đã không còn đáp ứng được nhu cầu toàn cầu hóa và hội nhập, việc thay thế bằng khung phân loại DDC trở nên cấp thiết.
Đầu năm 2004, dự án mức C “Xây dựng trung tâm tài nguyên TT – TV” là dự án lớn đầu tiên đầu tư cho thư viện góp phần làm thay đổi TV cả về lượng và chất. Với sự đầu tư trang thiết bị hiện đại và đầy đủ. bố trí tập trung trên mặt sàn trên 4000m2, Trung tâm TT – TV trường ĐH GTVT HN được xếp vào hàng những TV hiện đại ở Việt Nam. Chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Là một Trung tâm nằm trong khối TT – TV của các trường đại học, ngay từ những ngày đầu thành lập, Trung tâm TT – TV ĐH GTVT HN đã góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Nhà trường, phục vụ đắc lực cho chủ trương: “giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu” của Đảng và Nhà nước.
Vũ Thị Hòa 14 K51 Thông tin – Thƣ viện Khóa luận tốt nghiệp 1. Chức năng Trung tâm TT – TV trường ĐH GTVT HN là một cơ cấu tổ chức của Nhà trường đồng thời nằm trong hệ thống TT – TV cả nước. Đây là Trung tâm TT – TV chuyên ngành. Vì vậy, Trung tâm vừa mang những chức năng chung của một Trung tâm TT – TV vừa có chức năng riêng phục vụ cho chuyên ngành GTVT của Nhà trường: - Phục vụ TL và TT cho công tác giáo dục, đào tạo và NCPT, tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ phát triển GTVT của đất nước; - Nghiên cứu, thu thập, bổ sung, xử lý TL khoa học, kỹ thuật và công nghệ GTVT và các TL khác thuộc các lĩnh vực liên quan phục vụ cho việc giảng dạy, học tập, NCKH của cán bộ, giảng viên và sinh viên của Nhà trường; - Nghiên cứu nhu cầu TT của NDT, rèn luyện thói quen đọc có chất lượng cho họ, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của khối TT – TV các trường đại học.
Nhiệm vụ - Xây dựng hệ thống tra cứu tìm tin, thiết lập mạng lưới truy nhập và tìm tin tự động hoá, tổ chức cho NDT của Trung tâm khai thác và sử dụng thuận lợi và có hiệu quả nguồn tài nguyên TT của Trung tâm. - Khai thác, thu thập, xử lý TT tư liệu KHCN ngành GTVT trong và ngoài nước. - Lập kế hoạch cho Ban giám hiệu Nhà trường về công tác TT – TV phục vụ cho nhiệm vụ đào tạo và NCPT. - Tổ chức, sắp xếp, lưu trữ và bảo quản kho TL của Trung tâm.
- Có nhiệm vụ quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản của Trung tâm được giao, gồm toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị và hệ thống tài nguyên TT của Trung tâm. - Phát triển mối quan hệ hợp tác với các Trung tâm TT – TV khác, các tổ chức khoa học, các trường đại học trong và ngoài nước về lĩnh vực TT tư liệu.