Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Hệ thống cung cấp thông tin chọn lọc phục vụ cán bộ - giảng viên tại Trung tâm Thông tin – Thư viện trường ĐH GTVT" được tác giả Vũ Thị Hòa thực hiện năm 2010 tại Khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), dưới sự hướng dẫn của Kỹ sư Phạm Văn Vu. Nghiên cứu thuộc ngành Thông tin – Thư viện, đi sâu vào loại hình nghiên cứu khảo sát thực trạng hoạt động thông tin thư viện chuyên ngành và đề xuất mô hình dịch vụ thông tin chọn lọc (Selective Dissemination of Information - SDI).
Bối cảnh thực tiễn của đề tài gắn liền với yêu cầu đổi mới phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo và đẩy mạnh công tác nghiên cứu phát triển (NCPT) tại Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội (ĐH GTVT HN). Trong hơn 60 năm hình thành và phát triển, nhà trường đã đào tạo hơn 40.000 kỹ sư và thực hiện nhiều công trình nghiên cứu chuyển giao công nghệ cho ngành giao thông vận tải. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ - giảng viên (CB – GV) thường xuyên chịu áp lực về thời gian, phải tham gia khảo sát thực địa công trình và thực hiện các hợp đồng chuyển giao công nghệ, dẫn đến tỷ lệ đến đọc và khai thác trực tiếp tại thư viện truyền thống ở mức rất thấp. Nhằm khắc phục tình trạng này, việc xây dựng một hệ thống cung cấp thông tin chủ động, chính xác và có định hướng chuyên sâu là vấn đề cấp thiết đối với Trung tâm Thông tin – Thư viện của nhà trường.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể qua ba nhiệm vụ:
- Nghiên cứu đặc điểm, vai trò, nhiệm vụ của Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐH GTVT HN đối với sự nghiệp giảng dạy, đào tạo và nghiên cứu tại nhà trường.
- Nghiên cứu nhu cầu tin và tình hình đảm bảo thông tin cho người dùng tin là cán bộ – giảng viên chuyên ngành giao thông vận tải theo 3 khoa trọng điểm: Khoa Công trình, Khoa Cơ khí và Khoa Kinh tế vận tải.
- Đề xuất giải pháp áp dụng hệ thống cung cấp thông tin chọn lọc nhằm nâng cao chất lượng phục vụ thông tin cho cán bộ – giảng viên của Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐH GTVT HN.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cán bộ – giảng viên chuyên ngành giao thông vận tải thuộc Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội.
- Phạm vi không gian: Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội và 3 khoa chuyên ngành gồm Khoa Công trình, Khoa Cơ khí, Khoa Kinh tế vận tải.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng tại thời điểm năm 2009–2010, kết hợp đối chiếu các số liệu thống kê tài liệu khoa học và báo cáo nghiên cứu hoàn thành trong giai đoạn 2005–2010.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin để xem xét sự phát triển của hệ thống thông tin – thư viện trong mối quan hệ hữu cơ với hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học của cơ sở giáo dục đại học.
Về mặt lý thuyết chuyên ngành, tác giả khai thác lý thuyết dịch vụ phân phối/cung cấp thông tin chọn lọc (Selective Dissemination of Information - SDI), một phương thức phục vụ thông tin chủ động xuất hiện từ năm 1950 và được Hans Peter Luhn (tập đoàn IBM) ứng dụng công nghệ thông tin phát triển từ năm 1960. Mô hình SDI dựa trên ba yếu tố cấu thành cơ bản: nguồn cung cấp thông tin, nhà cung cấp thông tin (cơ quan thông tin và cán bộ thư viện) và người sử dụng thông tin. Cơ chế vận hành cốt lõi là xây dựng hồ sơ người dùng tin (profile/biểu thức tìm), đối sánh định kỳ với các tài liệu mới nhập và cung cấp gói thông tin phù hợp kèm cơ chế thu nhận phản hồi. Khóa luận cũng viện dẫn các chuẩn nghiệp vụ thư viện quốc tế và trong nước: quy tắc mô tả thư mục ISBD, định dạng biên mục máy đọc được MARC21, các khung phân loại tài liệu lịch sử và hiện hành như Khung phân loại Trung tiểu hình Trung Quốc, Khung phân loại BBK (Nga) và Khung phân loại Thập phân Dewey (DDC).
Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tế sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập, phân tích các văn bản lịch sử, báo cáo tổng kết của Trường ĐH GTVT HN và Trung tâm Thông tin – Thư viện; giáo trình, đề cương môn học của 3 khoa chuyên ngành; danh mục tài liệu tham khảo trong các báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học.
- Phương pháp quan sát và điều tra thực tế: Khảo sát hạ tầng công nghệ, quy trình lưu thông, các phòng đọc chuyên biệt tại Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐH GTVT HN; khảo sát mô hình dịch vụ thông tin tại 15 trung tâm thông tin – thư viện trường đại học lớn trên toàn quốc.
- Phương pháp phân tích thống kê và so sánh: Xử lý số liệu cán bộ – giảng viên (thống kê tháng 10/2009), số liệu bổ sung tài liệu in và tài liệu điện tử các năm 2007–2009; phân tích tỷ lệ đáp ứng tài liệu của thư viện đối với 80 tài liệu tham khảo trong các đề tài nghiên cứu giai đoạn 2005–2010; so sánh các mô hình cung cấp dịch vụ SDI tại Việt Nam.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu thống kê nội bộ của Trường ĐH GTVT HN, hồ sơ lưu trữ của Trung tâm Thông tin – Thư viện ĐH GTVT HN, biểu thống kê vốn tài liệu trên phần mềm quản trị ILIB và DLIB, cùng thông tin dịch vụ thực tế thu thập từ cổng thông tin của các trung tâm học liệu và thư viện đại học tại TP. Hồ Chí Minh, Thái Nguyên, Đà Nẵng, Cần Thơ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về trường ĐH GTVT HN và hoạt động của Trung tâm Thông tin – Thư viện
Chương 1 hệ thống hóa lịch sử phát triển, cơ cấu tổ chức và nguồn lực của trường cùng Trung tâm Thông tin – Thư viện. Tiền thân của trường là Trường Cao đẳng Giao thông – Công chính, khai giảng lại dưới chính quyền cách mạng ngày 15/11/1945 theo Sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh; chính thức mang tên Trường Đại học Giao thông Vận tải ngày 24/03/1962 theo Quyết định số 42/CP của Hội đồng Chính phủ; Cơ sở 2 tại TP. Hồ Chí Minh được thành lập ngày 27/04/1990 (Quyết định số 139/TCCB). Thống kê đến tháng 10/2009, toàn trường có 1.003 cán bộ – giảng viên – công nhân viên, trong đó có 726 giảng viên.
Trung tâm Thông tin – Thư viện thành lập theo Quyết định số 753/QĐ-BGD&ĐT-TCCB ngày 21/02/2002. Thư viện trải qua các giai đoạn: sơ tán tại Hà Bắc (Bắc Giang) năm 1965 với giá sách tre nứa; chia tách tư liệu năm 1967 khi thành lập Đại học Đường thủy; chuyển đổi khung phân loại từ Trung tiểu hình Trung Quốc sang BBK (năm 1975) và sang DDC khi thực hiện Dự án Giáo dục đại học (HEP).
Cơ sở vật chất kỹ thuật của Trung tâm có diện tích sàn trên 4.000 m2, gồm 19 cán bộ, trang bị 17 máy chủ đặt tại tầng 6 (quản lý phần mềm ILIB, DLIB, email, portal), 140 máy trạm và máy nghiệp vụ (trong đó có 80 máy trạm tra cứu thông tin đặt tại phòng đọc điện tử tầng 7), 5 máy quét thẻ Symbol, hệ thống an ninh RFID gồm 3 cổng an ninh, 30 camera giám sát, 13 tủ điều hòa 50.000 BTU, 20 máy điều hòa treo tường 18.000 BTU, 3 máy in mạng và máy photocopy. Tổng sức chứa phòng đọc là 712 chỗ ngồi (Tầng 5: 280 chỗ; Tầng 6: 256 chỗ; Tầng 7: 88 chỗ; Phòng đọc điện tử tầng 7: 88 chỗ).
Cơ cấu vốn tài liệu truyền thống và điện tử của Trung tâm tại thời điểm nghiên cứu được thống kê chi tiết:
| STT |
Loại hình tài liệu truyền thống |
Số lượng đầu |
Số lượng cuốn/bản |
| 1 |
Giáo trình |
397 |
59.600 |
| 2 |
Sách tra cứu |
28 |
37 |
| 3 |
Luận văn |
963 |
1.102 |
| 4 |
Luận án |
34 |
34 |
| 5 |
Đề tài nghiên cứu khoa học |
542 |
542 |
| 6 |
Báo, tạp chí tiếng Việt |
238 |
238 |
| 7 |
Tạp chí đóng quyển |
4.091 |
4.091 |
Nguồn tài liệu điện tử bao gồm 600 đầu sách tiếng Anh, 7.000 bài báo/đề tài NCKH tiếng Anh, 600 đầu luận văn/luận án/đề tài tiếng Việt và 60 đầu giáo trình số hóa.
Về kinh phí bổ sung: Báo – tạp chí tiếng Việt được cấp khoảng 40 triệu đồng/năm (duy trì khoảng 200 đầu); tạp chí ngoại văn mua qua Công ty XUNHASABA bị cắt giảm từ 52 đầu xuống còn 18 đầu do thiếu kinh phí và ít người dùng. Số lượng sách in qua xưởng in nhà trường giảm dần: năm 2007 bổ sung 15 đầu (23.240 cuốn); năm học 2007–2008 bổ sung 16 đầu (6.200 cuốn); năm học 2008–2009 chỉ còn 5 đầu (1.900 cuốn).
Về sản phẩm thông tin số, năm 2002 Trung tâm mua 7 cơ sở dữ liệu chuyên ngành tiếng Anh từ Dự án HEP mức C: BSI, Knovel, CSDL Tiêu chuẩn GTVT (AREMA, AASHTO qua IHS), IEEE ASPP Online, ASCE, eBary, Digital Engineering Library (DEL). Đến năm 2010, toàn bộ 7 CSDL này đều đã hết hạn truy cập trực tuyến, chỉ còn 2 CSDL khai thác offline tại máy chủ là BSI và Knovel.
Chương 2: Nhu cầu thông tin của cán bộ - giảng viên chuyên ngành GTVT và cấu trúc các nguồn tin thích ứng có tại Trung tâm Thông tin – Thư viện
Chương 2 khảo sát chuyên sâu hoạt động giảng dạy, nghiên cứu và tập quán sử dụng thông tin của cán bộ – giảng viên tại 3 khoa nòng cốt:
- Khoa Công trình: 217 cán bộ – giảng viên (50% có trình độ trên đại học), giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về xây dựng cầu đường, hầm, cảng đường thủy, vật liệu bê tông.
- Khoa Cơ khí: 94 giảng viên, đào tạo kỹ sư cơ khí ô tô, đầu máy toa xe, máy xây dựng và xếp dỡ.
- Khoa Kinh tế vận tải: 84 giảng viên (60% có trình độ trên đại học), đào tạo chuyên sâu về kinh tế vận tải, quản trị tài chính doanh nghiệp vận tải.
Hoạt động NCKH của nhà trường gắn liền với hàng trăm hợp đồng chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp ngành GTVT với giá trị trung bình 20 tỷ đồng mỗi năm. Giảng viên tham gia các đề tài tiêu biểu như: hệ thống cấp cát cho đầu máy, tín hiệu đường sắt tuyến Hà Nội – Lào Cai và Hà Nội – Đồng Đăng, dầm thép liên hợp cầu vượt đô thị, bê tông tự đầm, trạm trộn cấp phối 80–100 tấn/giờ.
Khảo sát thói quen sử dụng thư viện của giảng viên cho thấy sự chênh lệch rõ rệt:
- Giảng viên đến phòng đọc trực tiếp: chỉ chiếm 3% – 5%.
- Giảng viên sử dụng dịch vụ mượn sách về nhà: chiếm 10% – 12%.
- Giảng viên tra cứu và khai thác nguồn tin qua hệ thống mạng LAN/WAN tại văn phòng khoa: chiếm khoảng 20%.
Nguyên nhân do quỹ thời gian hạn chế và đặc thù phải đi thực địa, giám sát công trình. Khảo sát 80 tài liệu tham khảo trong các báo cáo NCKH của giảng viên hoàn thành giai đoạn 2005–2010 cho thấy: trung bình chỉ có 4 tài liệu tham khảo/đề tài; tài liệu ngoại văn tiếng Anh chiếm 18/80 (khoảng 20%); đặc biệt trong 80 tài liệu tham khảo được sử dụng, chỉ có 24 tài liệu có sẵn tại Trung tâm (tỷ lệ đáp ứng đạt 30%), 70% tài liệu còn lại giảng viên phải tự tìm kiếm từ các nguồn bên ngoài thư viện.
Trên cơ sở phân tích chương trình đào tạo và đề tài nghiên cứu, tác giả xây dựng "Khung đề mục chủ đề thông tin của cán bộ – giảng viên chuyên ngành Giao thông vận tải" gồm 3 phân nhóm chính:
- Nhóm 00 (Kinh tế, tài chính): Gồm 12 tiểu mục kinh tế (kinh tế xây dựng, kinh tế vận tải, định mức dự toán...), tài chính doanh nghiệp vận tải, kế toán xây dựng, quản trị kinh doanh vận tải đường sắt, ô tô, hàng không, thủy bộ.
- Nhóm 01 (Công trình giao thông, vật liệu xây dựng): Gồm thiết kế cầu đường, tự động hóa thiết kế cầu đường, công nghệ đúc hẫng, nền móng, đường sắt, cảng đường thủy, hầm giao thông, kết cấu thép, bê tông asphalt, bê tông cường độ cao.
- Nhóm 02 (Cơ khí): Gồm kỹ thuật chế tạo máy, động cơ đốt trong, cấu tạo và kiểm định ô tô, kỹ thuật đầu máy – toa xe, đoàn tàu metro, kết cấu thép máy xây dựng và xếp dỡ.
Chương 3: Xây dựng hệ thống cung cấp thông tin chọn lọc đáp ứng nhu cầu thông tin của cán bộ - giảng viên trường ĐH GTVT HN
Chương 3 trình bày cơ sở thực tiễn triển khai SDI tại Việt Nam và giải pháp cho ĐH GTVT HN. Kết quả khảo sát 15 trung tâm thông tin – thư viện lớn trên cả nước cho thấy chỉ có 5 đơn vị đã triển khai dịch vụ SDI:
- Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh: Cung cấp thông tin định kỳ theo tháng, quý, năm qua quầy lưu hành, điện thoại hoặc email.
- Trung tâm Học liệu Đại học Thái Nguyên: Cung cấp thông tin chuyên đề định kỳ theo dạng tóm tắt hoặc toàn văn.
- Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG TP. Hồ Chí Minh): Vận hành quy trình SDI 4 bước hoàn chỉnh (thu nhận nhu cầu -> xây dựng profile/biểu thức tìm -> đối sánh chỉ số tài liệu với profile -> chuyển giao thông tin và thu nhận phản hồi).
- Trung tâm Học liệu Đại học Đà Nẵng: Cung cấp thông tin trực tiếp hoặc qua email từ nguồn sách, báo, tạp chí, CD-ROM, CSDL.
- Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ: Cung cấp thông tin trọn gói có thu phí.
Mức phí dịch vụ thông tin chọn lọc tại Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ được ghi nhận như sau:
| STT |
Nội dung dịch vụ |
Mức phí quy định |
| 1 |
Phí đăng ký dịch vụ: Bạn đọc trong trường |
30.000 đồng/lần |
| 2 |
Phí đăng ký dịch vụ: Bạn đọc ngoài trường |
100.000 đồng/lần (hoàn lại 70% khi kết thúc) |
| 3 |
Danh mục các tài liệu đã chọn |
3.000 đồng/tài liệu |
| 4 |
Tóm tắt bài trong danh mục |
50.000 đồng/tài liệu |
| 5 |
Tài liệu toàn văn |
Tính theo số trang quy định |
Để triển khai hệ thống SDI phục vụ giảng viên tại Trung tâm TT – TV ĐH GTVT HN, tác giả đề xuất 5 nhóm kiến nghị cụ thể:
- Giới thiệu dịch vụ SDI tới người dùng tin: Tuyên truyền trực tiếp đến các bộ môn, khoa, viện thông qua trang web portal và các buổi sinh hoạt học thuật.
- Đảm bảo nguồn tin thích ứng: Duy trì và bổ sung các CSDL ngoại văn, mua quyền truy cập trực tuyến, đẩy mạnh số hóa nguồn tài liệu nội sinh (giáo trình nội bộ, luận văn, luận án, kỷ yếu NCKH).
- Đảm bảo nguồn nhân lực thực hiện SDI: Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ thư viện (19 cán bộ hiện có) về kỹ năng tra cứu chuyên sâu, bao gói thông tin, xây dựng biểu thức tìm kiếm chuyên ngành GTVT.
- Phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật và CNTT: Tận dụng 17 máy chủ, 140 máy trạm, nâng cấp mạng WAN/LAN kết nối trực tiếp đến văn phòng các bộ môn; chuẩn hóa biên mục theo định dạng MARC21 và quy tắc ISBD.
- Phát triển các dịch vụ phụ trợ: Dịch vụ sao chép và in ấn tài liệu theo yêu cầu, dịch thuật chuyên ngành, mượn liên thư viện với các viện nghiên cứu và trường đại học kỹ thuật trong nước.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu của khóa luận mang lại các kết quả và đóng góp thực tiễn cụ thể:
- Chỉ ra sự đối lập thực tế trong hành vi tiếp cận thông tin của giảng viên ĐH GTVT HN: tỷ lệ đến đọc trực tiếp tại thư viện rất thấp (3% – 5%), trong khi nhu cầu sử dụng từ xa qua mạng đạt 20% và mượn tài liệu đạt 10% – 12%.
- Đo lường mức độ đáp ứng tài liệu nghiên cứu: Xác định nguồn lực của thư viện mới chỉ đáp ứng được 24/80 (30%) tài liệu tham khảo trong các báo cáo NCKH giai đoạn 2005–2010 của cán bộ – giảng viên; tỷ lệ tài liệu tham khảo tiếng Anh đạt mức 20% (18/80 tài liệu).
- Thống kê tình trạng nguồn tin số: Ghi nhận tình trạng 7 CSDL điện tử chuyên ngành quốc tế mua từ Dự án HEP mức C (BSI, Knovel, AREMA/AASHTO, IEEE ASPP, ASCE, eBary, DEL) đã hết hạn trực tuyến tại thời điểm 2010, chỉ còn 2 cơ sở dữ liệu có thể khai thác offline.
- Xây dựng hoàn chỉnh bảng Khung đề mục chủ đề thông tin chuyên ngành Giao thông vận tải (nhóm 00: Kinh tế; nhóm 01: Công trình; nhóm 02: Cơ khí) làm công cụ chuẩn hóa cho cán bộ thư viện thiết lập profile người dùng tin SDI.
- Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện và đề xuất quy trình ứng dụng dịch vụ SDI phục vụ riêng cho cán bộ – giảng viên tại Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội, cung cấp cơ sở dữ liệu so sánh thực tiễn giữa 15 trung tâm thông tin thư viện lớn tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có các hạn chế được rút ra từ phạm vi và văn bản nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát nhu cầu tin chuyên ngành mới tập trung tại 3 khoa đào tạo lớn (Khoa Công trình, Khoa Cơ khí, Khoa Kinh tế vận tải), chưa tiến hành điều tra chi tiết nhu cầu thông tin của các khoa và viện khác trong trường như Khoa Điện – Điện tử, Khoa Công nghệ thông tin, Viện Quy hoạch và Quản lý GTVT.
- Nghiên cứu chưa thiết kế chi tiết phần mềm hoặc module tự động hóa SDI trên nền tảng ILIB/DLIB sẵn có mà dừng lại ở đề xuất quy trình nghiệp vụ và phương án tổ chức.
Hướng mở nghiên cứu tiếp theo tác giả:
- Mở rộng phạm vi khảo sát nhu cầu tin sang các chuyên ngành kỹ thuật phụ trợ còn lại của nhà trường.
- Triển khai thử nghiệm quy trình cung cấp dịch vụ SDI trên một nhóm cán bộ giảng dạy chủ chốt của 3 khoa trước khi nhân rộng toàn trường.
- Xây dựng cơ chế hợp tác chia sẻ nguồn tin và triển khai dịch vụ mượn liên thư viện với Thư viện Quốc gia Việt Nam, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Viện Khoa học và Công nghệ GTVT.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Thông tin – Thư viện, Quản trị thông tin: Cung cấp phương pháp luận khảo sát nhu cầu người dùng tin chuyên ngành kỹ thuật và quy trình xây dựng dịch vụ SDI trong thư viện đại học.
- Cán bộ quản lý thư viện các trường đại học khối kỹ thuật: Cung cấp bài học kinh nghiệm về quản lý, vận hành và tối ưu hóa hạ tầng trang thiết bị công nghệ (RFID, phòng đọc điện tử, máy chủ quản trị số) và giải pháp khắc phục khi các gói CSDL quốc tế hết hạn hợp đồng.
- Cán bộ nghiên cứu ngành Giao thông vận tải: Cung cấp danh mục nguồn tin chuyên ngành có giá trị (tạp chí ngoại văn, bộ tiêu chuẩn AREMA, AASHTO, BSI) và khung phân loại chủ đề tài liệu kỹ thuật giao thông.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ giảng viên Trường ĐH GTVT HN trực tiếp đến phòng đọc của thư viện là bao nhiêu và nguyên nhân do đâu?
Tỷ lệ cán bộ – giảng viên đến đọc trực tiếp tại các phòng đọc chỉ chiếm khoảng 3% – 5% tổng số người dùng tin. Nguyên nhân do quỹ thời gian của giảng viên rất hạn chế và tính chất công việc chuyên ngành đòi hỏi phải thường xuyên đi khảo sát thực tế tại các công trình, hạng mục giao thông bên ngoài.
2. Nguồn tài nguyên của thư viện đáp ứng được bao nhiêu phần trăm nhu cầu tài liệu tham khảo trong các đề tài nghiên cứu khoa học của giảng viên?
Qua đối chiếu 80 tài liệu tham khảo từ các báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học giai đoạn 2005–2010 của cán bộ – giảng viên, chỉ có 24 tài liệu có sẵn tại thư viện, đạt tỷ lệ đáp ứng 30%. Có tới 70% số tài liệu tham khảo tác giả phải tự tìm kiếm từ các nguồn bên ngoài.
3. Tại thời điểm nghiên cứu năm 2010, tình trạng khai thác 7 cơ sở dữ liệu điện tử chuyên ngành mua từ Dự án HEP mức C như thế nào?
Toàn bộ 7 CSDL điện tử mua từ Dự án HEP mức C (BSI, Knovel, CSDL Tiêu chuẩn GTVT AREMA/AASHTO, IEEE ASPP Online, ASCE, eBary, DEL) đều đã hết hạn truy cập online. Người dùng tin chỉ còn có thể khai thác offline đối với 2 CSDL là BSI (Viện Tiêu chuẩn Anh) và Knovel (sách điện tử tương tác).
4. Dịch vụ SDI đã được triển khai tại bao nhiêu cơ quan thông tin – thư viện trong số các đơn vị được tác giả khảo sát tại Việt Nam?
Qua điều tra khảo sát tại 15 trung tâm thông tin – thư viện lớn ở nước ta, chỉ có 5 trong số 15 trung tâm đã tiến hành triển khai dịch vụ SDI, bao gồm: TT TT-TV ĐHQG TP. Hồ Chí Minh, Trung tâm Học liệu ĐH Thái Nguyên, TT TT-TV ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG TP. Hồ Chí Minh), Trung tâm Học liệu ĐH Đà Nẵng và Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Hòa đã phản ánh toàn diện thực trạng cơ sở vật chất, vốn tài liệu và tập quán khai thác thông tin của cán bộ – giảng viên Trường Đại học Giao thông Vận tải Hà Nội vào năm 2010. Công trình chỉ rõ khoảng trống lớn giữa nguồn tài nguyên hiện có tại chỗ với nhu cầu thông tin chuyên sâu của giảng viên trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Việc đề xuất triển khai dịch vụ cung cấp thông tin chọn lọc (SDI) cùng hệ thống khung đề mục chủ đề chuyên ngành là giải pháp thiết thực nhằm nâng cao năng lực phục vụ của Trung tâm Thông tin – Thư viện, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành giao thông vận tải.