Chương 1: Tổng quan về đồ án tốt nghiệp - Chương 2: Cơ sở lý thuyết: lý thuyết về sơn, các thiết bị trong hệ thống và lý thuyết chuẩn truyền thông Modbus trong công nghiệp. - Chương 3: Tính toán thiết kế và lựa chọn thiết bị: yêu cầu của hệ thống, tính toán thiết kế phần cứng, lựa chọn thiết bị, lưu đồ giải thuật điều khiển. - Chương 4:Thi công hệ thống: kết quả thi công hệ thống. - Chương 5: Kết luận: kết quả đạt được, hạn chế và hướng phát triển 19 CHƯƠNG II.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MÀU SƠN VÀ PHA TRỘN SƠN 2. Tổng quan về sơn Sơn là một hỗn hợp lỏng đồng nhất, hoặc có thể hóa lỏng được, hoặc thành phần mastic, để khi quét lên bề mặt một lớp mỏng, nó sẽ chuyển thành một màng rắn, trong đó chất tạo màng liên kết với các chất màu tạo màng liên tục bám trên bề mặt vật chất. Hỗn hợp được điều chỉnh với một lượng phụ gia và dung môi tùy theo tính chất của mỗi loại sản phẩm. Sơn thường được sử dụng rộng rãi để: - Bảo vệ - Trang trí - Cung cấp kết cấu cho các đối tượng Chủ yếu trên thị trường là sơn được bán dưới dạng sơn nước, có nhiều màu sắc phong phú và đa dạng, có đặc tính che phủ, bám dính được nhiều bề mặt khác nhau.
Hình 1: Hình ảnh các màu sơn nước • Các thành phần chính của sơn: Nhựa (40% - 60%): Alkyd, Acrylic, Epoxy, Polyurethane, Fluorocarbon. - Tạo liên kết các thành phần của sơn. 20 - Tạo độ kết dính cho sơn. - Tạo độ bền cho màu sơn.
Bột màu (7% - 40%): Bột màu gốc, bột màu bổ sung, bột chống gỉ. - Tạo màu cho sơn. - Tạo độ bền và độ cứng của màng sơn. Phụ gia (0% - 5%): Là các chất tăng độ bền cho sơn bao gồm độ bền màu sắc, khả năng chịu thời tiết, tăng độ bóng cứng và độ phủ cho sơn, tăng thời gian bảo quản của sơn, một số tính chất đặc biệt khác bao gồm : - Chất làm khô tạo sức căng bề mặt.
- Chất chống nấm mốc. Dung môi (10% - 30%): Hòa tan nhựa và bột màu. Công nghệ sản xuất sơn Dựa vào sơ đồ trên, ta có thể hiểu được một quy trình sản xuất sơn bao gồm các công đoạn như sau: Chuẩn bị nguyên liệu (bột tạo màu, nhựa, dung môi hòa tan, các chất phụ gia đã được nghiền và lọc) → Pha trộn theo tỉ lệ → Khuấy → Pha loãng → Chiết rót → Dán nhãn → Đóng thùng → Vận chuyển → Tiêu thụ. • Một số dây chuyền , nhà máy sơn hiện nay Hình 2: Nhà máy sản xuất sơn ICI Dulux, KCN Mỹ Phước 2, Bình Dương 21 Hình 3: Máy pha sơn hãng Dulux Hình 4: Máy pha sơn hãng Sea Master 2.
Quy luật pha màu sơn • Khái niệm về màu sắc Theo quang học: Khi luồng ánh sáng trắng đi qua lăng kính mặt trời thì tách ra 7 sắc gồm: đỏ, cam, vàng, lục, lam, chàm, tím. Đó là sự hiển thị của các loại ánh sáng có bước sóng dài ngắn khác nhau. Do đó về mặt quang học, ta có thể khẳng định màu sắc chính là ánh sáng. Màu sắc mà chúng ta nhìn thấy từ mọi vật đó là sự phản chiếu của ánh sáng từ vật vào mắt.
Hình 5: Thang màu từ đỏ tới tím của 7 sắc cầu vồng 22 • Ba yếu tố cơ bản của màu sắc - Sắc (tone): Độ đậm nhạt của màu sắc nào đó khi pha thêm trắng hoặc đen. - Quang độ (value): Độ sáng hoặc tối của một màu, là tác dụng liên kết của độ đậm nhạt này với độ đậm nhạt kia. Ví dụ trong vòng thuần sắc, vàng là màu có đỉnh quang độ sáng nhất, tím là màu có đỉnh quang độ tối nhất do sự đập mắt. - Cường độ (intensity): Là mức độ mạnh hay yếu của một màu nào đó do sự kích thích thị giác.
Hình 6: So sánh tương quan giữa quang độ và cường độ của hai màu • Các quy luật pha màu Có 2 quy luật pha màu là cộng màu và trừ màu. Hình 7: Quy luật cộng màu hệ màu RGB 23 - Quy luật cộng màu: Ba màu sơ cấp trong ánh sáng là đỏ (red), lục (green), xanh (blue). +Ánh sáng đỏ hòa với ánh sáng lục cho ánh sáng vàng (Yellow - Y). + Ánh sáng lục hòa với ánh sáng lam cho ánh sáng màu da trời (Cyan - C).
+ Ánh sáng lam hòa với đỏ cho ánh sáng tím hồng (Magenta - M). Tím hồng là màu khá gần với màu tím (Violet). Tím hồng (Magenta) là màu không có trong phổ ánh sáng tự nhiên. Nếu hòa cả 3 chùm ánh sáng sơ cấp R, G, B với nhau ta được ánh sáng trắng.
Đó là quy luật cộng màu. - Quy luật trừ màu Trong màu hóa chất như mực in, phẩm nhuộm, sơn thì ngược lại: Ba màu sơ cấp là tím hồng (Magenta - M), da trời (Cyan - C), và vàng (Yellow - Y). Hình 8: Quy luật trừ màu trong hệ màu CMYK + Tím hồng (M) hòa da trời (C) cho xanh (Blue - B). Như vậy, trong màu hóa chất thì đỏ, lục và lam lại là 3 màu thứ cấp.
Hòa 3 màu sơ cấp hóa chất M, C, Y với nhau vể mặt nguyên tắc ta được màu đen. Nhưng vì các màu hóa chất không tuyệt đối tinh khiết, nên vẫn cần có màu đen riêng. Vì thế, trong in ấn, chỉ cần 4 màu da trời (C) tím hồng (M) vàng (Y) đen(K) (trong đó K = key, tức màu đen), là in ra được tất cả các màu, trừ màu trắng (là màu của giấy). 24 Tại sao màu hóa chất lại tuân theo quy luật trừ màu? Đó là bởi vì vật chất bản thân nó không có màu sắc (trừ những vật tự phát sáng) mà chỉ tán xạ và hấp thụ các bước sóng ánh sáng đơn sắc trong ánh sáng chiếu vào nó.
Một vật có màu đỏ là vì khi ánh sáng trắng chiếu vào nó, nó hấp thụ các ánh sáng lục và lam, chỉ phản chiếu ánh sáng đỏ vào mắt ta. Một vật có màu đen khi hấp thụ tất cả ánh sáng chiếu vào nó. Một vật có màu trắng vì nó phản xạ tất cả các bước sóng ánh sáng. Hình 9: Sự khác biệt khi kết hợp 2 màu của sơn và ánh sáng (vàng+xanh) Hình 10: Sự khác biệt khi kết hợp 2 màu của sơn và ánh sáng (đỏ+lục) • Lựa chọn quy luật pha màu cho đề tài 25 Trên thực tế các hạt màu trong màu sơn không phải là các màu sơ cấp lý tưởng.
Vì thế bảng pha màu (hay vòng tròn màu sắc) chỉ có tác dụng định hướng. Chỉ các hãng sản xuất sơn mới nghiên cứu và thực sự hiểu màu pha trộn với nhau như thế nào để tạo thành màu khác, dựa trên kinh nghiệm của các chuyên gia và tự tạo ra được một công thức pha màu sơn cho riêng mình. Trong đề tài, em áp dụng nguyên tắc pha màu tuân theo quy tắc trừ màu và chọn 3 màu sơ cấp (Primary, hay còn gọi là màu chính, màu cơ bản, màu bậc nhất) là đỏ (Red – R), vàng (Yellow – Y) và xanh (Blue – B). Từ đó có thể pha ra các màu khác (trừ đen và trắng – không màu nào pha trộn ra nó).
Như vậy 3 màu thứ cấp là: đỏ (red), vàng (yellow), xanh (blue). Trộn màu sơ cấp với màu thứ cấp cạnh nó thì được màu tam cấp (Tertiary). Hình 11: Ba màu cơ bản trên bánh xe màu Hình 12: Nguyên tắc pha trừ màu với 3 màu sơ cấp RYB Màu sơn sơ cấp: Màu đỏ, màu xanh và màu vàng được gọi là màu chính. Không giống như màu thứ cấp, bậc ba và bậc bốn, màu sơn chính không thể được "tạo ra" bằng cách trộn bất kì màu nào với nhau.
Ba màu cơ bản này bắt nguồn cho các màu của phần còn lại mà bạn nhìn thấy trên bánh xe màu. 26 Màu sơn thứ cấp: Ngoài ra còn có 3 màu sơn thứ cấp trên một bánh xe màu. Chúng được tạo ra khi bạn kết hợp 2 màu chính với nhau với số lượng bằng nhau. Hình 13: Ví dụ các màu thứ cấp Màu trung gian: 6 màu còn lại bạn nhìn thấy trên một bánh xe màu điển hình được gọi là màu sơn trung gian.
Chúng được sản xuất bằng cách trộn một màu chính với một màu thứ cấp liền kề. Hình 14: Ví dụ về các màu trung gian • Các cách pha màu cho đề tài Pha trộn màu sơ cấp để tạo thành màu thứ cấp: Có 3 màu sơ cấp: đỏ, xanh dương và vàng. Các màu này không thể được “tạo ra” bằng cách pha trộn các màu vẽ khác. Tuy nhiên, chúng có thể pha trộn với nhau để tạo thành 3 màu thứ cấp: đỏ pha xanh dương tạo thành màu tím, xanh dương pha vàng sẽ thành màu xanh lá và đỏ pha vàng sẽ cho ra màu cam.
Lưu ý rằng khi pha các chất màu vẽ sơ cấp với nhau, các màu thứ cấp tạo ra sẽ không được tươi sáng và rực rỡ lắm. Lý do là vì các màu mới được kết hợp này mang tính trừ nhiều hơn và ít phản chiếu ánh sáng từ quang phổ màu hơn, khiến cho màu thứ cấp có vẻ tối và xỉn chứ không được sáng và rực rỡ. Tránh pha trộn các màu vẽ để tạo màu trắng: Các màu vẽ là màu trừ, tức là sắc tố màu hấp thụ một số phần của quang phổ và phản chiếu các phần khác, từ đó tạo ra màu vẽ mà chúng 27 ta nhận được. Điều này có nghĩa là nếu bạn pha thêm nhiều màu khác nhau thì màu vẽ sẽ càng tối hơn vì nó sẽ càng hấp thụ nhiều ánh sáng hơn.
Vì vậy, ta không thể pha trộn các chất pha màu với nhau để tạo nên màu trắng. Lưu ý rằng nếu muốn sử dụng màu trắng cho dự án vẽ tranh, bạn sẽ phải mua màu trắng thay vì pha trộn màu. Thêm màu trắng và các màu khác nhau để tạo màu nhẹ: Các màu nhẹ chỉ là phiên bản nhạt hơn của màu gốc. Để làm nhạt màu và tạo màu nhẹ, bạn hãy thêm màu trắng vào màu đó.
Lượng màu trắng thêm vào càng nhiều thì màu tạo thành sẽ càng nhạt. TÌM HIỂU HỆ THỐNG TRỘN SƠN SỬ DỤNG PLC 2. Tổng quan về PLC PLC là viết tắt tiếng Anh của từ Programmable Logic Controller – Bộ điều khiển logic khả trình. Nó cho phép thực hiện linh hoạt các giải pháp điều khiển logic thông qua một ngôn ngữ lập trình, để thực hiện hàng loạt các sự kiện tùy theo yêu cầu của quá trình sản xuất và dễ dàng thay đổi nhiệm vụ bằng cách thay đổi chương trình bên trong bộ nhớ.