phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận và thực tiễn về kiểm tra đánh giá theo định hƣớng phát triển năng lực giải quyết vấn đề của HS ở trƣờng THPT Chƣơng 2. Xây dựng và sử dụng hệ thống đề kiểm tra đánh giá theo định hƣớng phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho HS trong dạy học chƣơng đại cƣơng về kim loại - Hóa học 12. Thực nghiệm sƣ phạm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG 1. Năng lực và sự phát triển năng lực cho học sinh Trung học phổ thông 1. Khái niệm năng lực Khái niệm NL có nguồn gốc tiếng Latinh “competentia”, có nghĩa là gặp gỡ. Ngày nay, khái niệm NL đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau.
Theo từ điển Giáo khoa tiếng Việt: “Năng lực là khả năng làm tốt công việc.” Theo từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng, 2000): “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định”. Weinert (2001) định nghĩa: “Năng lực là những khả năng và kỹ xảo học đƣợc hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng nhƣ sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách GQVĐ một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt”. Theo Bernd Meiner – Nguyễn Văn Cƣờng: “Năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong các tình huống thay đổi thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng nhƣ sẵn sàng hành động” [2, tr 68]. Trong chƣơng trình dạy học định hƣớng phát triển năng lực, khái niệm năng lực đƣợc sử dụng nhƣ sau [2]: - Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu dạy học: mục tiêu dạy học của môn học đƣợc mô tả thông qua các năng lực cần hình thành; - Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản đƣợc liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực; - Năng lực là sự kết hợp của tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn.; - Mục tiêu hình thành năng lực định hƣớng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động dạy học về mặt phƣơng pháp; - Năng lực mô tả việc giải quyết những nhiệm vụ trong các tình huống: ví dụ nhƣ đọc một văn bản cụ thể.
nắm vững và vận dụng đƣợc các phép tính cơ bản; 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành cơ sở chung trong việc giáo dục và dạy học; - Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể đƣợc xác định trong các chuẩn: Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể, cần phải đạt đƣợc những gì? Nhƣ vậy, chúng tôi hiểu: “Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. Năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và kết quả hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống” [12, tr. Cấu trúc của năng lực Có nhiều loại năng lực khác nhau. Khái niệm phát triển năng lực ở đây cũng đƣợc hiểu đồng nghĩa với phát triển năng lực hành động.
Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau. Cấu trúc chung của năng lực hành động đƣợc mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phƣơng pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể. Năng lực hành động là sự gặp gỡ của các năng lực. Hay các thành phần năng lực gặp nhau tạo thành năng lực hành động [2]: NL cá thể NL chuyên môn NL xã hội NL phƣơng pháp NL hành động Hình 1.
Mô hình cấu trúc năng lực hành động [2, tr 68] - Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng nhƣ khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phƣơng pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó đƣợc tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động. - Năng lực phƣơng pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hƣớng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phƣơng pháp bao gồm năng lực phƣơng pháp chung và phƣơng 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com pháp chuyên môn.
Trung tâm của phƣơng pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó đƣợc tiếp nhận qua việc học phƣơng pháp luận – GQVĐ. - Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt đƣợc mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng nhƣ trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó đƣợc tiếp nhận qua việc học giao tiếp.
- Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá đƣợc những cơ hội phát triển cũng nhƣ những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó đƣợc tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tƣ duy và hành động tự chịu trách nhiệm. Mô hình bốn thành phần của NL trên phù hợp với bốn mục tiêu giáo dục (4 trụ cột giáo dục) theo tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá liên hợp quốc (UNESCO) đã đƣa ra. Ta có thể mô tả bằng sơ đồ sau: Các thành phần năng lực Các mục tiêu giáo dục theo UNESCO Năng lực chuyên môn Học để biết Năng lực phƣơng pháp Học để làm Năng lực xã hội Học để cùng chung sống Năng lực cá thể Học để tự khẳng định Hình 1.
Mối quan hệ phát triển năng lực và mục tiêu giáo dục Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Ví dụ: Năng lực nghề nghiệp của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chuẩn đoán, đánh giá và tư vấn; năng lực đổi mới, phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học. Từ cấu trúc của năng lực cho thấy giáo dục định hƣớng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kĩ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phƣơng pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể. Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ.
Sự phát triển năng lực của học sinh Trung học phổ thông Dự án phát triển GV THPT và Trung cấp chuyên nghiệp của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất năng lực của HS trong chƣơng trình giáo dục phổ thông sau năm 2015 gồm 3 nhóm năng lực chung và năng lực chuyên biệt [9]: - Nhóm năng lực về làm chủ và phát triển bản thân gồm: Năng lực tự học, NLGQVĐ, năng lực tƣ duy, năng lực tự quản lý. - Nhóm năng lực về quan hệ xã hội gồm: Năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác. - Nhóm năng lực công cụ gồm: Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán. - Nhóm các năng lực chuyên biệt.
Trong dự thảo “Chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể” của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ rõ các năng lực cần thiết của HS bao gồm năng lực chung và năng lực đặc thù môn học [12]: Năng lực chung là năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ một ngƣời nào cũng cần có để sống, học tập và làm việc. Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhƣng đều hƣớng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung của học sinh. Các năng lực chung của HS là: Năng lực tự học, NLGQVĐ và sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực tính toán, năng lực công nghệ thông tin và truyền thông. Năng lực đặc thù môn học (của môn học nào) là năng lực mà môn học đó có ƣu thế hình thành và phát triển (do đặc điểm của môn học đó).
Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau. Đối với môn Hóa học, theo chúng tôi có thể có các năng lực đặc thù môn học (năng lực chuyên biệt) sau [10]: Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học, năng lực thực 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành hóa học, năng lực tính toán hóa học, NLGQVĐ thông qua môn Hóa học, năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống. NL và các thành tố của NL không bất biến mà đƣợc hình thành và biến đổi liên tục trong suốt cuộc sống của mỗi cá nhân và thể hiện qua các hoạt động, có thể quan sát đƣợc ở những tình huống, hoàn cảnh khác nhau. Nên có thể đo lƣờng và đánh giá đƣợc.
Năng lực giải quyết vấn đề 1. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề Theo [11], có hai cách tiếp cận về NLGQVĐ: Theo cách truyền thống, NLGQVĐ đƣợc tiếp cận theo tiến trình GQVĐ và sự thay đổi nhận thức của chủ thể sau khi GQVĐ. Theo cách hiện đại, NLGQVĐ đƣợc tiếp cận theo quá trình xử lí thông tin nhấn mạnh đến các yếu tố: Vấn đề; không gian vấn đề. Đến nay cũng có nhiều định nghĩa khác nhau về NLGQVĐ: Theo PISA 2012, “GQVĐ là năng lực của một cá nhân tham gia vào quá trình nhận thức để hiểu và giải quyết các tình huống có vấn đề mà phƣơng pháp của giải pháp đó không phải ngay lập tực nhìn thấy rõ ràng.