đặt vấn đề và giải quyết vấn đề, kiểm tra và đánh giá được cách giải quyết của bản thân, phê phán cách đặt và cách giải quyết vấn đề của người khác. + Có năng lực suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo, phát hiện được mối liên hệ khăng khít giữa những sự kiện đã có trong thực nghiệm, trong bài tập hoặc trong thực tế sản xuất, đời sống để tìm ra phương pháp đúng, hợp lí, độc đáo để giải quyết vấn đề đặt ra. + Do đó một học sinh học giỏi vật lý sẽ nắm được kiến thức cơ bản về vật lý một cách chính xác, hành động tự giác: hiểu, nhớ, vận dụng tốt những kiến thức đó trong học tập và đời sống.2 Học sinh chuyên vật lý Học sinh được tuyển chọn vào các trương THPT chuyên hầu hết là các học sinh có trí thông minh, ham học hỏi, tích cực và chủ động trong quá trình học tập nghiên cứu và kém theo năng khiếu. Học sinh năng khiếu có ưu thế về khả năng trực giác.
Vì vậy nếu một học sinh năng khiếu được học tập một cách hệ thống chu đáo, thì anh ta sẽ trở thành học sinh xuất sắc trong lĩnh vực đó và làm bước đầu của tài năng. Mục tiêu của cá trương THPT chuyên là phải phát hiện những học sinh có tư chất thông minh, đạt kết quả xuất sắc trong học tập và phát triển năng khiếu của các em về một số môn học trên cơ sở đảm bảo giáo dục phổ thông toàn diện; giáo dục các em thành người có lòng yêu nước, tinh thần vượt khó, tự hào, tự tôn dân tộc; có khả năng tự học, nghiên cứu khoa học và sáng tạo; có sức khỏe tốt để tiếp tục đào tạo thành nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước. Nghiên cứu vận dụng phù hợp, hiệu quả các phương pháp quản lý, dạy học, kiểm tra đánh giá tiên tiến; tổ chức hiệu quả các hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và kỹ năng hoạt động xã hội của học sinh; tạo điều kiện cho học sinh nghiên cứu khoa học, sáng tạo kỹ thuật, vận dụng kiến thức vào 9 z giải quyết những vấn đề thực tiễn và sử dụng ngoại ngữ trong học tập, giao tiếp. Rèn luyện trí thông minh và giáo dục học sinh giỏi.
Thực chất của việc rèn luyện trí thông minh cho học sinh là bồi dưỡng năng lực suy nghĩ linh hoạt, sáng tạo mà bước đầu là giải các bài toán nhận thức độc lập sáng tạo. Trong việc rèn luyện trí thông minh cũng như bồi dưỡng các thuộc tính tâm lí khác điều quan trọng là phải thường xuyên, liên tục và có hệ thống. Việc rèn luyện trí thông minh không tách rời óc quan sát, phát triển trí tưởng tượng, trau dồi ngôn ngữ, bồi dưỡng chú ý, cung cấp những tri thức và phương pháp làm việc, hình thành những kĩ năng, kĩ xảo. Những năng lực này tự nó chưa phải là rèn luyện trí thông minh nhưng ở mỗi giai đoạn phát triển thì một năng lực nào đó trong số ấy sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển trí thông minh.
Rèn trí thông minh cần đi song song với xây dựng tình cảm tốt đẹp rèn luyện ý chí và những phẩm chất khác của nhân cách. Những phẩm chất này có thể bù trừ phần nào cho trí thông minh nhưng không thể thay thế hoàn toàn nó trong cấu trúc nhân cách của một con người có đức có tài. Như vậy trí thông minh của học sinh phải được rèn luyện qua tất cả các khâu của quá trình dạy học và thường xuyên chú ý trên cơ sở vận dụng tốt các nguyên tắc dạy học, giáo dục và các quy luật tâm lý của học sinh. Việc rèn luyện trí thông minh cho học sinh phải thông qua những việc làm cụ thể có tác động đến tư duy học sinh đặc biệt là tư duy sáng tạo.
Những năng lực, phẩm chất cần có của học sinh giỏi Vật. Theo các tài liệu về tâm lý học và phương pháp dạy học vật lý thì năng khiếu vật lý được thể hiện qua một số năng lực và phẩm chất sau: - Năng lực tiếp thu kiến thức: Khả năng nhận thức vấn đề nhanh, rõ ràng. Luôn hứng thú trong các tiết học, nhất là bài học mới. 10 z Có ý thức tự bổ sung, hoàn thiện những tri thức đã thu được ngay từ dạng sơ khai.
- Năng lực suy luận logic: Biết phân tích sự vật, hiện tượng qua các dấu hiệu đặc trưng của chúng. Biết thay đổi góc nhìn khi xem xét một sự vật hiện tượng. Biết cách tìm con đường ngắn để sớm đi đến kết luận cần thiết. Biết xét đủ các điều kiện cần thiết để đạt được kết luận mong muốn.
Biết xây dựng các ví dụ để loại bỏ một số miền tìm kiếm vô ích. Biết quay lại điểm vừa xuất phát để tìm đường đi mới. - Năng lực đặc biệt: Biết diễn đạt chính xác điều mình muốn. Sử dụng thành thạo hệ thống kí hiệu, các qui ước để diễn tả vấn đề.
Biết phân biệt thành thạo các kĩ năng đọc, viết và nói. Biết thu gọn các vấn đề và trật tự hóa các vấn đề để dùng khái niệm trước mô tả cho các khái niệm sau. - Năng lực lao động sáng tạo: Biết tổ hợp các yếu tố, các thao tác để thiết kế một dãy các hoạt động nhằm đạt kết quả mong muốn. - Năng lực kiểm chứng: Biết suy xét sự đúng sai từ một loạt sự kiện.
Biết tạo ra các tương tự hay tương phản để khẳng định hoặc bác bỏ một đặc trưng nào đó trong sản phẩm do mình làm ra. Biết chỉ ra một cách chắc chắn các dữ liệu cần phải kiểm nghiệm sau khi thực hiện một số lần kiểm nghiệm. - Năng lực thực hành: Vật lý là bộ môn khoa học thực nghiệm nên học sinh có năng khiếu vật lý không chỉ có các năng lực trên mà cần có khả năng về thực nghiệm, năng lực tiến hành các thực nghiệm vật lý: Biết thực hiện dứt khoát một số động tác trong khi làm thí nghiệm. 11 z Biết kiên trì, kiên nhẫn trong quá trình làm sáng tỏ một số vấn đề lí thuyết qua thực nghiệm hoặc đi đến một số vấn đề lí thuyết mới dựa trên thược nghiệm.
Vấn đề về năng khiếu vật lý và những thành tố chủ yếu của năng khiếu hóa học còn cần được tiếp tục nghiên cứu thêm. Trước mắt cần xác định những phẩm chất và năng lực quan trọng nhất của một học sinh giỏi vật lý. Đó là: Có kiến thức vật lý cơ bản vững vàng, sâu sắc, hệ thống. Chính là nắm vững bản chất vật lý của các hiện tượng hóa học.
Có năng lực tư duy vật lý: Biết phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa cao, có khả năng sử dụng phương pháp mới (qui nạp, diễn dịch, loại suy…). Có khả năng quan sát, nhận xét, nhận thức các hiện tượng tự nhiên. Biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo, mềm dẻo những kiến thức cơ bản và hướng nhận thức đó vào tình huống mới, không theo đường mòn. Một số biện pháp phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi.
Bên cạnh việc nâng cao nhận thức việc tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi, để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đạt kết quả tốt, người cán bộ quản lý cần phải xây dựng kế hoạch một cách khoa học, cụ thể, tương đối dài hạn và có tính khả thi cao. Trong đó phải chú ý đến mặt mạnh, mặt yếu của nhà trường ở tất cả các yếu tố: đội ngũ giáo viên và học sinh, tình tình cơ sở vật chất, tài chính, nguồn lực. Để phục vụ cho công tác bồi dưỡng đội học sinh giỏi. Trong kế hoạch phải thể hiện được mục tiêu, chương trình, đối tượng tham gia, thiết bị, phương tiện, đồ dùng dạy học, hình thức thi đua khen thưởng kinh phí cần sử dụng.
Mặt khác, kế hoạch cũng cần thể hiện được phương thức thành lập đội tuyển, cơ cấu mỗi đội, thời gian tuyển chọn, thời gian khảo sát chất lượng đội tuyển, kế hoạch hội thảo rút kinh nghiệm trong việc dạy đội tuyển học sinh 12 z giỏi của nhà trường. Đồng thời, phải được toàn thể cán bộ, giáo viên và học sinh nắm vững. Tổ chức phát hiện và tuyển chọn đội học sinh giỏi Việc phát hiện và tuyển chọn học sinh vào đội tuyển học sinh giỏi là một trong những khâu rất quan trọng, quyết định phần lớn chất lượng của đội học sinh giỏi. Tuy nhiên, khâu này đòi hỏi đầu tư nhiều công sức, đòi hỏi năng lực và tâm huyết của các thầy cô giáo.
Có thể thực hiện khâu này theo 3 bước: Bước 1: Tập hợp các học sinh giỏi, kể cả một số em làm đơn xin dự thi vào đội tuyển. Tổ chức kì thi chọn đội tuyển học sinh giỏi để khảo sát kiến thức học sinh.Xem xét kết quả học tập ở những năm trước hoặc kết quả thi tuyển đầu vào, lấy ý kiến của các giáo viên bộ môn. Bước 2: Tiến hành kiểm tra những tố chất của học sinh năng khiếu: Thông tuệ, sáng tạo, phẩm chất ưu việt thông qua thi trắc nghiệm. Bước 3: Đo một số chỉ số sinh lý có liên quan đến học sinh năng khiếu và xem xét phả hệ gia đình (nếu có điều kiện).
Tuyển chọn và phân công giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi Vai trò của người giáo viên trong công tác phát hiện, bồi dưỡng học sinh giỏi là hết sức quan trọng. Giáo viên bồi dưỡng phải là một người thầy vừa hồng vừa chuyên, hay nói cách khác phải đủ tâm, đủ tầm; phải có ý thức tích cực trau dồi, tích lũy chuyên môn, đọc nhiều, hiểu sâu vấn đề mà mình dạy học sinh theo phương châm biết mười dạy một. “Có thể nói giáo viên bồi dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định kết quả bồi dưỡng” Việc tuyển chọn và phân công giáo viên bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những công việc quan trọng của nhà quản lý giáo dục. Công việc này cần dựa trên các tiêu chí: Giáo viên có trình độ kiến thức chuyên môn cao, được công nhận là giáo viên giỏi từ cấp trường trở lên; có phẩm chất đạo đức tốt, yêu nghề và hăng say với công tác bồi dưỡng học sinh 13 z giỏi; có kỹ năng thiết kế bài dạy tốt, có ý thức tìm tòi, nghiên cứu về chuyên môn.
Công tác phân công lao động sư phạm hợp lý sẽ giúp cho người giáo viên phát huy tốt năng lực, sở trường của mình. Giáo viên giảng dạy ở những môn thi học sinh giỏi được bố trí giảng dạy theo học sinh đến hết khóa học. Có như vậy giáo viên mới có điều kiện phát hiện học sinh giỏi ngay từ đầu cấp và có kế hoạch bồi dưỡng ngay từ lớp 10.