Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN CUA DE TÀI 1. Cơ sở lý luận Dé thực hiện dé tải Xây dung hệ thong bài tập và trả chơi học tập về dạy học nghĩa của tử trong mỗi quan hệ giữa các từ ở lớp Nam, chủng tôi dựa trên cơ sở tâm li học của học sinh tiêu hoc, cơ sở từ vựng - ngữ nghĩa học, cơ sở lý luận dạy học từ và nghĩa của từ và cơ sở nội dung chương trình Tiếng Việt Năm (phan môn Luyện từ vả cầu). Cơ sử tâm lý học của học sinh tiểu học Day học tiếng Việt nói chung va nghĩa của tir nói riêng cản hiểu rõ đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học thi việc day học mới có hiệu quả. Học sinh lớp Năm ở giai đoạn cuỗi của lứa tudi tiểu học thường có những đặc điểm tâm lý sau: © Về tri giác: Trẻ tiểu học ở giai đoạn cuỗi cấp có những biển đổi quan trọng.
Các em nắm được kĩ thuật tri giác, học được cách nhìn, cách nghe, cách phân biệt những dấu hiệu, chỉ tiết trong một đổi tượng. Ở trình độ nảy, tri giác có tính chủ định đã phát triển, gắn với khả năng quan sát của trẻ. Khi dạy học ngôn ngữ nên tích cực sử dung các giác quan của trẻ. s Về sự chú ý: Học sinh tiểu học tập trung chủ ý chưa cao cho nên khi dạy học can sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học phải hợp tạo sự chú ý ở trẻ.
Về tư duy: Học sinh khối lớp cuỗi cắp đã bắt đầu tư duy trừu tượng. se VỀ tưởng tượng: Học sinh khối lớp 4 -5 xử lý những biểu tượng, dau hiệu hình ảnh khả trọn ven và cụ thể hơn. e Về trí nhớ: Học sinh khối lớp cuỗi cap đã bat dau ghi nhớ có ý nghĩa. s Về ngôn ngữ: © các lớp cuỗi bậc tiểu học, học sinh khá phát triển vẻ ngữ âm, ngữ pháp, và từ.
Việc hiểu nghĩa của từ tuy vẫn còn hạn chế nhưng nhờ tham gia các hoạt động học tập, vui choi, giao tiếp nhiều với bạn bè, thay cõ.nên vốn từ ngày cảng phong phú hơn. Như vậy, học sinh lớp Năm đã phát triển kĩ năng hiểu nghĩa của từ, các em rất ham muốn vả tò mò tìm hiểu nghĩa của từ. Cư sử từ vựng - ngữ nghĩa học Nghĩa của từ là mỗi quan hệ của từ với sự vật hay khái niệm, biểu tượng trong thực tế khách quan. Do từ có mỗi quan hệ với hiện thực khách quan, với người sử dụng và hệ thống ngôn ngữ, nên nghĩa của từ bao gồm các thành phan ngữ nghĩa: nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm, nghĩa biểu thái và nghĩa liên tưởng.
Như vậy, nghĩa của từ là một hợp thể rất phức tạp, mỗi quan hệ về ngữ nghĩa giữa các từ cũng rất đa dạng. Giữa các từ với nhau có quan hệ ngữ nghĩa như đồng nghĩa, trái nghĩa, bao nghĩa, giao nghĩa, tổng quát - bộ phận. Ngoai ra, mỗi quan hệ giữa các từ còn bộc lộ trên trục tuyến tính, trục kết hợp, trong cụm từ, trong câu. Cơ sở Ip luận dạy học tir và nghĩa của từ Muỗn quá trình giao tiếp diễn ra suỗn sẻ, đạt hiệu quả cao thi cả người phat (néi-viét) và người nhận (nghe-đọc) đều cần phải có von tir, kha năng hiểu nghĩa từ và sử dụng từ hợp lý.
Do chưa có nhiều trải nghiệm nên vốn từ ngữ của HS tiểu học còn hạn chế, khả năng hiểu nghĩa từ chưa tốt nên anh hưởng tới hoạt động giao tiếp. Vì thé chúng ta can có biện pháp phát triển năng lực hiểu nghĩa từ ở học sinh dé đáp ứng việc học cũng như giao tiếp của trẻ. Nhiệm vụ của việc dạy học từ và nghĩa của từ cho học sinh tiểu học là làm giàu vốn từ cho học sinh, hệ thong vả tích cực hóa vốn từ; giúp học sinh thành thạo các kĩ năng nghe. nói, đọc, viết tiếng Việt: dạy học sinh các kiến thức vẻ cấu tạo từ, nghĩa của tir, từ loại.Ngoài ra, day từ và nghĩa từ còn có nhiệm vụ văn hóa hóa vốn từ, rèn luyện tư duy, giáo dục thẩm mỹ cho học sinh.
Trong các nhiệm vụ trên, MRVT là nhiệm vụ quan trọng nhất trong việc dạy học tiếng ở tiểu học. Trẻ luôn tò mỏ, khám phá, muốn tìm hiểu và nhận biết thé giới xung quanh, vì vậy, nếu vốn từ bị hạn chế sẽ ảnh hưởng không tốt tới quá trình học tập và phát triển nhận thức của trẻ. Khi nói và viết điều gì, trẻ phải suy nghĩ, tìm từ ngữ cho phủ hợp. Khi nghe, đọc một câu chuyện.
một đoạn van trẻ cũng cần huy động bộ não để hiểu nghĩa của từ. Những li lẽ trên cho thấy sự can thiết của việc xây dựng hệ thống bài tập về nghĩa từ cho trẻ luyện tập nhiều hơn đáp ứng nhu cầu cung cấp vốn từ, làm giàu vốn từ cho trẻ. Day học từ và nghĩa từ có mục đích cdn tuần thủ các nguyên tắc sau: + Nguyên tắc chủ ÿ đến trình độ tiếng mẹ đẻ của học sinh Trước tuổi đi học, khi giao tiếp với gia đình, xã hội, học sinh trước hết tiếp nhận vỏ âm thanh và đồng thời cũng cảm nhận được một nét nghĩa nào đó của từ thông qua hoàn cảnh giao tiếp. Bằng con đường tự nhiên, trẻ đã tự tích lũy cho mình một vén từ nhất định.
Việc dạy từ không chỉ cung cấp những từ mới chưa có trong vốn từ của HS mà còn cung cấp thêm những nét nghĩa khác của từ mà học sinh đã biết. Vi vậy, giáo viên cần phải hiểu biết về vốn từ của trẻ, từ đó mới có thé xác định được những từ mới. nét nghĩa mới cần dạy cho các em. +Nguyên tắc thực hành Mục đích cuối cùng của việc day học từ, nghĩa từ là mong muốn học sinh vận dụng.
sử dụng từ vào giao tiếp sao cho hợp lí. Nguyên tắc này yêu cầu khi đạy từ, nghĩa từ cần thường xuyên tạo ra những tinh huống giao tiếp nhất định để học sinh vận dụng từ ngữ. câu đã học vào hoạt động giao tiếp. + Nguyên tắc trực quan Những hình ảnh cảm tính, những biểu tượng của trẻ em vẻ thé giới xung quanh rất cần thiết cho bat kì việc dạy học nao.
Theo quy luật tâm ly, càng nhiêu cơ quan cảm giác tham gia vào việc tiếp nhận đối tượng thì càng ghỉ nhớ một cách chắc chăn đổi tượng ấy. khi dạy nghĩa của từ, trong phạm vi có thé, can sử dụng các phương tiện trực quan tác động lên nhiều giác quan, nghĩa là làm sao cho việc tiếp nhận từ của học sinh dựa trên cơ sở của sự tac động qua lại của những cảm giác: nghe, nhìn, phát âm, viết. Điều này cho thấy sự cần thiết tô chức trò chơi hỗ trợ dạy học nghĩa từ dé tác động lên các giác quan, giúp học sinh ghi nhớ có hiệu quả. + Nguyên tắc hệ thống Khi dạy nghĩa của từ cần phải đối chiếu từ với hiện thực, đặt từ trong hệ thống của nó để xét nghĩa của từ, tức là đặt từ trong các mối quan hệ đồng nghĩa, trái nghĩa.
bao nghĩa, giao nghĩa, tổng quát- bộ phận, cùng chủ đề.; đặt từ trong các mỗi quan hệ với những từ khác xung quanh nó trong văn bản. Những kiến thức về nghĩa từ, đặc điểm của từ trong hệ thống là cơ sở quan trọng giúp giáo viên xác định được mục dich, nội dung, cách thức dạy học giúp học sinh hiểu và năm kiến thức một cách dễ dàng. Cơ sở nội dung chương trình Tiếng Việt 5 (phân môn Luyện từ và câu) Phân môn Luyện từ và câu được dạy 2 tiết trong | tuần. Các bai dạy về mối quan hệ: đồng nghĩa, trái nghĩa, đồng âm, nhiều nghĩa được dạy chủ yếu ở 8 tuần đầu học kì Một.
Còn các dạng bài tập về nghĩa từ trong mối quan hệ ngữ nghĩa thì được triển khai ở nhiều tiết MRVT trong chương trình. Qua nội dung day học Luyện từ và câu lớp Năm. học sinh được học thêm khoảng 500-600 từ ngữ (kể cả thành ngữ. tục ngữ) theo các chủ dé: Tổ quốc.
nhân dân: hòa bình, hữu nghị. hợp tác; thanh niên: bảo vệ môi trường: hạnh phúc: công dan; trật tự, an ninh; truyền thống; nam va nữ; trẻ em, quyển và bổn phận. Cơ sở thực tiễn Sự phân bổ vẻ thời lượng day học quả ít (1 tiết dạy ở tiểu học từ 35- 40 phút) mà nội dung day học từ ngữ lại nhiều. Do đó những áp lực của công việc và thời gian luôn đòi hỏi GV phải dạy cho kịp tiến độ.
Mặt khác các tai liệu tham khảo phục vụ giảng dạy chưa phong phủ đã phần nảo hạn chế sự sinh động của tiết dạy. Khi được học nghĩa từ, HS tiếp cận khái niệm trừu tượng, cách miều tả, giải thích nghĩa một số từ còn mang tính chất ngôn ngữ học. Trong thực tế, các giờ dạy sử dụng trò chơi học tập thường mang lại sự sôi nỗi, sự hứng thú, say mé đối với học sinh. Do vậy, để việc học nghĩa của từ đạt hiệu quả cao, chúng ta cần chú trọng đến hình thức truyền thụ kiến thức đẻ gây hứng thú học tập cho học sinh.
Theo Bủi Thanh Truyền. khoa Giáo dục Tiểu học - ĐHSP Huế: “Giải nghĩa từ trong chương trình Tiếng Việt ở cấp tiểu học hiện đã thể hiện được vai trỏ của mình. Tuy thé, thực tiễn dạy học tiếng Việt nói chung và giải nghĩa từ nói riêng còn đặt ra nhiều van dé cắp thiết, nhất là tính hiệu quả ti da. Trước hết, xét về mặt nội dung.
theo khảo sát của tác giả Lê Phương Nga thì hiện nay, khi xây dựng SGK Tiếng Việt tiểu hoc, các nhà biên soạn đều xác định phạm vi vốn từ tối thiểu về thế giới xung quanh, công việc của học sinh. Vì thé, những từ ngữ được dạy ở bậc tiểu học gắn liền với thiên nhiên, đất nước, con người. giúp làm giàu nhận thức, mở rộng tằm mắt của học sinh, giúp các em nhận thấy vẻ đẹp của quê hương, đất nước. con người, dạy các em biết yêu và ghét.
Xét về mặt kết cấu va phân bố chương trình, trong tổng số 175 tuần học của chương trình Tiếng Việt tiểu học mới, từ ngữ hiện vẫn chỉ được day tích hợp qua các phân môn của Tiếng Việt mà chưa có giờ riêng. Chương trình 165 tuần và chương trình 100 tuần học trước đây thì đã có phân môn Từ ngữ, có giờ học từ ngữ riêng. bắt đầu từ lớp 2. Thời lượng giảng dạy tử ngữ trong tổng số quỹ thời gian của năm học ở cả hai chương trình cũ và mới là vừa phải.